Đại tá Phạm Quế Dương
không thể là một
tội phạm
Nguyễn
Thanh Giang
LTS : Đây
là một bài của Nguyễn Thanh Giang nói về Phạm Quế Dương. Nguyễn Thanh
Giang là bạn thân của Phạm Quế Dương nên biết rõ sự nghiệp và con người
Phạm Quế Dương. Tuy thân nhau nhưng tính tình hai người khác nhau. Nguyễn
Thanh Giang là một nhà nghiên cứu tham gia cuộc vận động dân chủ. Phạm Quế
Dương là một người hành động có nghiên cứu lý thuyết. Chúng tôi không đồng
ý với Nguyễn Thanh Giang khi ông phê phán người bạn thân của ông có lối
nói bỗ bã, đốp chát, hay đả kích cá nhân một cách khinh mạn không cần
thiết. Thực ra những điều Phạm Quế Dương nói và viết chỉ phản ánh con
người trung thực của ông và Phạm Quế Dương vẫn chưa nói hết những sự thực
còn xấu xa hơn nhiều.
Bà Đỗ thị Cư - nguyên phó giám đốc Lâm trường Yên Bái, đảng ủy viên đảng
bộ Bộ Lâm nghiệp - đã viết về chồng mình - đại tá Phạm Quế Dương - như sau
: "Gia đình tôi tự hào có người chồng chung thủy, người cha mẫu mực,
người ông hiền hòa. Đối với họ tộc giữ được nếp gia phong, kính trên
nhường dưới. Đối với bạn bè chân thành cởi mở. Đối với cấp dưới khoan dung
độ lượng. Không ỷ quyền nạt nộ kẻ dưới. Biết thương yêu đồng đội lúc khó
khăn. Không phân biệt kẻ sang người hèn. Đối với cấp trên, anh Dương có cá
tính đặc biệt, không cơ hội, khom lưng, nịnh hót, cầu lợi cá nhân, chỉ
phục tùng người thực sự có tài và rất tôn trọng người tài. Nếu như ai đó
bất tài, thất đức thì dù ở cấp cao đến mấy cũng không thần phục được anh
Dương. Chính vì thế mà anh luôn bị thiệt thòi và gặp rất nhiều gian truân
trong suốt quá trình công tác của mình… Anh là người dám nói trước những
điều nhiều người biết nhưng không dám nói, dám làm những việc nhiều người
thấy cần phải làm nhưng không dám làm…".
Niềm
tự hào của phu nhân Phạm Quế Dương được xem là chính đáng khi bản nhận xét
của tướng Hoàng Phương - bí thư đảng ủy Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam -
cũng từng ghi nhận : "Nhiệt tình công tác tốt, có sáng kiến và tháo vát
trong điều kiện rất thiếu người, thiếu phương tiện và kinh phí - Sống chan
hòa với anh em, trong sinh hoạt không có hiện tượng vun vén cá nhân, mặc
dù gia đình có rất nhiều khó khăn… Còn ương khi có việc mình chưa thông…".
Vậy
mà, chồng bà, một con người như thế, nay đã quá tuổi "thất thập cổ lai hy"
lại đang bị giam cầm, tù tội.
Không phải nhà tù của kẻ thù ngoại bang mà nhà tù của những người cầm
quyền ở một chính quyền do chính đại tá Phạm Quế Dương chinh chiến từ buổi
đầu, đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu mình góp phần xứng đáng tạo dựng nên !
Nước
mắt giàn giụa, bà nghẹn ngào nói lên nỗi lo lắng sắp tới đây không biết
chồng bà có còn đủ sức lực để đứng vững trong một phiên tòa quái ác không.
Bà
gần như gục hẳn xuống khi mô tả cảnh bà gặp chồng hôm 14 tháng 2 mới đây.
Bà liên tưởng một lần đưa chồng đi cấp cứu "vì bệnh của anh Dương đã có
tiền sử về tim, lúc đó cấp cứu vì nghi nhồi máu cơ tim, bản thân rất nhiều
bệnh : viêm gan, viêm túi mật mãn, viêm đại tràng, gai đôi cột sống, rối
loạn tiền đình". Ông là một thương binh 4/4.
Một
người làm sử xả thân bảo vệ sự thật
Ông
Phạm Quế Dương từng được cử giữ các chức vụ : trợ lý tuyên huấn trung đoàn
240, sư đoàn 367 ; trưởng phòng tuyên huấn Quân Khu 2 ; phó chính ủy sư
đoàn 243… Nhưng có lẽ nhiệm vụ giao phó hợp sở trường, sở đoản nhất đối
với ông là cương vị tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự. Ông có trí nhớ
rất tốt, trong đầu ông chứa một kho sử liệu không nhỏ.
Ngày
10 tháng 7 năm 1986, tổng bí thư Lê Duẩn từ trần, trong tiểu sử ông ta,
các cơ quan ngôn luận đều công bố : "Năm 1960, tại Đại hội lần thứ 3, …đồng
chí được bầu lại vào Ban chấp hành trung ương, được bầu vào Bộ chính trị,
giữ chức bí thư thứ nhất và bí thư Quân ủy trung ương…". Với cương vị
tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự, đại tá Phạm Quế Dương đã công phu
đi tìm để trao đổi cùng nhiều quan chức cao cấp của Đảng : ông Chu Huy Mân,
chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị, ông Đào Duy Tùng, trưởng ban tuyên huấn
trung ương, ông Hoàng Tùng, bí thư trung ương Đảng, phụ trách khối tuyên
huấn, kiên quyết đề nghị phải đính chính cho đúng sự thật và ghi rõ : tổng
bí thư Lê Duẩn chỉ kiêm chức bí thư Quân ủy trung ương từ năm 1978 đến năm
1984.
Tổng
biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự tuyên bố dứt khoát : "Nếu không sửa
lại cho đúng lịch sử, chúng tôi không cho đăng tiểu sử Lê Duẩn như trên
trong tạp chí khoa học về lịch sử quân sự".
[...]
[LTS :
Chúng tôi mạn phép cắt một đoạn không quan trọng về cuộc tranh cãi về vai
trò và thành tích của đại tướng Võ Nguyên Giáp].
Việc
một cơ quan khoa học nước ngoài nào đó chọn 10 danh tướng thế giới, trong
đó riêng Việt Nam có hai (Trần Hưng Đạo và Võ Nguyên Giáp) là hoàn toàn có
thể có thật, và là chuyện bình thường thôi. Viện khoa học nước ấy chọn thế,
viện khoa học nước khác có thể chọn khác. Cũng như cuối mỗi năm báo chí
Việt Nam chọn 10 sự kiện quốc tế tiêu biểu trong năm kiểu này, báo nước
khác chọn khác. Thế mà khi đại tá Phạm Quế Dương cùng một số người hùn
nhau bỏ cả tiền túi ra để in cho được cuốn "Mười danh tướng thế giới"
thì bị an ninh văn hóa mời lên mời xuống hạch sách, hăm dọa. Sách vẫn "ương
ngạnh" xuất bản... để rồi bị thu hồi ! Nếu trong cuốn sách kiểu như thế mà
có tên các ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh thì ngày ấy chắc người ta
đã phóng tay đổ công, đổ của của nhân dân mặc sức tuyên truyền rùm beng.
Bảo rằng để khuyếch trương niềm tự hào dân tộc.
Khi
đại tướng Hoàng Văn Thái từ trần, được tướng Hoàng Phương đồng ý và sau
khi trao đổi với Cục Tuyên Huấn, đại tá Phạm Quế Dương viết bài tưởng niệm.
Trong đó, có những đoạn rất xúc động : "Tuổi già hạt lệ như sương. Các
cán bộ cũ ở Bộ Tổng Tham Mưu nghe tin Anh ra đi, đã bàn bạc cùng nhau để
cô đặc giọt lệ tuổi già viết thành tám chữ "trọn nghĩa nước non, vẹn tình
đồng đội" trên bức trướng khóc Anh. Nào ai hay những giọt lệ ấy đã nói hộ
nỗi lòng của toàn dân, toàn quân trong việc đánh giá công lao, đức độ của
một trong những vị tướng tài ! Cũng phải thôi. Vì lòng Dân vẫn là ý Đảng.
Trước sự ra đi của một vị tướng như Anh, công luận bao giờ cũng là công
bằng, chính xác".
Ông
tướng Nguyễn Đình Ước tìm mọi cách ngăn trở không cho đăng bài tưởng niệm
đó ngay cả trên tạp chí Lịch sử Quân sự. Nhà báo Phạm Quế Dương loay hoay
thế nào vẫn quyết tâm đăng bằng được, sau đó ít lâu. Bởi vì ông cho rằng "chẳng
phải ông Hoàng Văn Thái bị thù ghét mà các ông Lê Trọng Tấn, Chu Văn Tấn,
Trần Văn Trà, Lê Quảng Ba, Lê Thiết Hùng, Vương Thừa Vũ… cũng bị như vậy.
Vì họ cho là các ông ấy thân ông Giáp. Có thế thôi".
Một
tín đồ có tâm Phật
Trong lý lịch, ông Phạm Tiến Phúc (tên khai sinh của đại tá Phạm Quế Dương)
khai là mình theo đạo Phật. Thực tế, ông quả là người rất từ bi, bác ái.
Bà
Cư kể rằng ông Dương không những đã từng góp hết lương của mình mà còn bán
cả quân trang, cho đến chiếc mũ cối, đôi giầy vải để trả lương cho anh em
trong ban biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự. Thế mà, sau hai năm,
vào khoảng 1985-1986, tạp chí được thưởng bốn xe đạp Đi-a-măng, anh em
bình bầu cho ông, ông nhất quyết nhường cho người khác.
Là
đại tá, tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự, ông Phạm Quế Dương
được phân phối một căn hộ tầng một khép kín ở Khu Tập Thể Thanh Xuân bắc.
Vợ con khấp khởi chờ đợi ngày dọn nhà. Cuối cùng tất cả thất vọng vì ông
đã nhường cho một gia đình có mẹ già bị bại liệt và ba con nhỏ.
Một
chị thường đến lấy nước gạo ở Khu Tập Thể 37 Lý Nam Đế bỗng nhiên bị mất
cả xe đạp, lẫn thùng nước gạo, ông Phạm Quế Dương liền đưa cho chị chiếc
xe đạp của Kiều Anh - con gái út của ông - nói là cho mượn. Sau mấy ngày
phải nhờ bạn đèo xe đi học, cháu năn nỉ ông đòi xe về. Ông tuyên bố đã cho
chị ấy.
Một
người thỉnh thoảng đến thăm tôi, mà tôi nghi là công an chìm, kể lại. Một
hôm, anh đang cùng ông đi trên hè phố, gặp một cháu gái chân quê đi bán
rau, bị công an thu giữ. Cháu khẩn khoản kêu xin, trình bày rằng đây là
toàn bộ vốn liếng của cháu. Ông Phạm Quế Dương cũng xin hộ không được. Ông
đành móc túi còn khoảng gần trăm ngàn, đưa cho cháu hết.
Bà
con từ nhiều tỉnh xa về đội đơn đến Mai Xuân Thưởng trình lên lãnh đạo
không được, đến nhờ vả đại tá Phạm Quế Dương. Ai cũng được ông tiếp đón ân
cần. Chẳng những thế, người đói còn được ông mời cơm, người rách được ông
cho quần áo. Gặp mưa, ông tặng áo mưa. Tiếng lành đồn xa, bà con bảo nhau
kéo đến ngày càng đông. Vợ con khổ sở, ông phát ốm vì không được nghỉ ngơi.
Đã thế còn mang vạ là bị quy tội kích động nhân dân khiếu kiện ! Trong 902
đầu tài liệu tuyên bố tịch thu được ở nhà ông có một số nhiều những đơn
thư đó.
Vợ
chồng ông Phạm Quế Dương được mời đi lễ hội Đình Tổ Bắc Ninh, nhân đó rủ
nhau ra viếng mộ cụ nghè Lê Văn Thịnh. Thấy cảnh mộ hoang sơ, trong đoàn
hơn chục người đi viếng lại chỉ có mỗi cô giáo Cấp I cầm nhang ra thắp,
ông Dương bỗng sụp xuống nức nở. Khi về lại Đình Tổ thụ lộc, nghe ông từ
kể về công đức Cụ Nghè, ông Dương lại òa khóc và khởi xướng ngay việc tôn
tạo mộ cụ Lê Văn Thịnh. Bà Cư hỏi : ông định lấy tiền đâu ra để làm việc
này. Ông ngước nhìn lên bàn thờ, vẻ thành kính : "Rồi Cụ sẽ cho mình".
Mấy tuần sau, được truy lĩnh mấy triệu bạc tiền "Tiền khởi nghĩa". Ông
Dương khoe với vợ con : "Đấy bố nói Cụ sẽ cho có đúng không !". Rồi
ông đem nộp cho ban tôn tạo mộ cụ nghè Lê Văn Thịnh.
Ông
còn chủ trì cùng Hội Sử Học tổ chức hội thảo và sau đó đứng ra góp viên
gạch đầu tiên tôn tạo mộ bà Nguyễn Thị Lộ - vợ yêu danh nhân Nguyễn Trãi -
tại Khuyến Lương.
Đền
thờ danh nhân Nguyễn Trãi vừa được nhà nước cho xây dựng khang trang dưới
chân Côn Sơn cũng có phần nhờ Phạm Quế Dương là người tích cực góp công đề
xướng, xuất phát ngay sau chuyến ông hành hương cùng Hội Dưỡng Sinh lên
Côn Sơn.
Chùa
Diên Hựu (tức chùa Một Cột) - ngôi chùa có thời kỳ từng được xem là biểu
tượng của Hà Nội - còn tồn tại được như ngày nay là nhờ công đức rất lớn
của phật tử Phạm Quế Dương. Năm 1985, khi xây Bảo Tàng Hồ Chí Minh, Đảng
và Chính phủ đã có chủ trương phá bỏ khuôn viên chùa Một Cột. Ý kiến đề
đạt của phật tử Phạm Quế Dương không được xem xét đúng mức. Ông phản ứng
ngày càng gay gắt và đấu tranh ngày càng quyết liệt, bất chấp mọi sự va
chạm với những quyền lực tối cao có nguy cơ đe doạ tính mệnh mình. Ông bảo
: "Ai cho phép khoanh cả khuôn viên chùa Diên Hựu - Một Cột vào khuôn
viên Bảo Tàng Hồ Chí Minh ? Bảo Tàng Hồ Chí Minh dù có vĩ đại bao nhiêu
cũng mới có 12 tuổi vì khánh thành 1990. Không thể áp đặt Bảo Tàng Hồ Chí
Minh ngồi trên chùa Diên Hựu - Một Cột có gần một ngàn năm tuổi của vua Lý
Thái Tổ gửi cho đời sau được".
Khi
cuộc đấu tranh thắng lợi, chùa Diên Hựu được bảo toàn, ông cười hoan hỉ.
Bảo rằng đấy là nhờ ơn Đức Phật tổ.
Dẫu
sao, ông vẫn chưa thôi ấm ức. Tuy chùa Một Cột không bị phá bỏ hoàn toàn,
nhưng nhà thờ Tổ và khu nhà Tăng đã bị triệt tiêu. Bài vị của các sư tổ
của chùa - những vị trụ trì ở đây từ thế kỷ 11 - nay phải thờ chung ở nhà
thờ Mẫu. Đồng thời, sư không có chỗ ở, phải khoanh bằng gỗ ghép để ở trong
Tam Bảo, trước ban thờ đức Đại tạng Đại Bồ Tát và vong linh các gia quyến
đưa lên chùa.
Năm
1996, một cơn bão lớn bỗng quật đổ cây bồ đề cổ thụ của chùa Một Cột. Lời
thỉnh cầu của sư sãi không đem lại hiệu quả. Lại cũng chính phật tử Phạm
Quế Dương phải sắn tay vào cuộc. Không quản ngại, ông chạy đủ mọi cửa,
chắp tay vái tứ phương mới cứu được cây bồ đề Diên Hựu.
Cuộc
đấu tranh lâu dài, gian nan nhất, được khởi sự ngay từ sau ngày về hưu của
người con hiếu đễ dòng họ Phạm là cuộc đấu tranh đòi Tử Dương Vọng Đình.
Ngôi đình vọng của làng Tử Dương, xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín đã từng tọa
lạc tại số 8 Hàng Buồm. Đình được xây dựng từ thời Hậu Lê (1767), thờ Tuệ
Trung thượng sĩ Trần Tung, anh cả của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.
Đình này bị một hộ chiếm đoạt, phá đình làm nhà, quét vôi che phủ bia, làm
phi tang tất cả báu vật trong Đình. Có ý kiến của cố vấn Phạm Văn Đồng, có
công văn của ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, thanh tra thành phố Hà Nội,
yêu cầu quận Hoàn Kiếm giải quyết. Song, qua hàng chục năm trời, dân làng
Tía đi lại, lên xuống cầu xin mà lãnh đạo quận Hoàn Kiếm vẫn không đoái
hoài.
Ông
Dương đã từng tuyên bố sẵn sàng hiến toàn bộ số tiền 7.000 USD giải thưởng
nhân quyền của tổ chức nhân quyền quốc tế Human Rights Watch để làng nộp
cho tòa án quốc tế La Haye làm án phí xử kiện đòi Tử Dương Vọng Đình. Đây
là nỗi khắc khoải, day dứt hết sức lớn trong lòng ông Phạm Quế Dương.
Ngày
14 tháng 2 vừa qua trong buổi gặp gia đình tại trại giam B14, sau khi
thuật lại nội dung bản cáo trạng Viện Kiểm Sát Nhân Dân gửi ngày 3 tháng 2
năm 2004, ông đã thiết tha nhắn gửi : "Thôi thì mọi tội lỗi quy kết bố
đành chịu hết. Chỉ mong sao Nhà nước trả lại Tử Dương Vọng Đình cho dòng
họ Phạm quê ta".
Nói
phỉ phui, nếu vì sự đàn áp quá dã man của chính quyền này mà dẫn đến cái
chết của ông thì xin hãy mai táng ông tại làng Tử Dương ; bên mộ là một
miếu thờ ; trong miếu thờ đặt pho tượng đồng của ông ; dưới bức tượng là
dòng chữ mạ vàng kể trên. Không chỉ để dòng họ Phạm tưởng nhớ ông mà để
các thế hệ noi theo một tấm gương nghĩa hiệp, một tấm lòng tha thiết vì
quê hương đất nước.
Một
chiến đấu tính mạnh mẽ của người cựu binh tái ngũ chống Tàu
Năm
1960, sĩ quan chiến binh chống Pháp Phạm Quế Dương chuyển ngành về làm cán
bộ tuyên truyền Tổng Cục Lâm Nghiệp. Năm 1965, tiếng gọi tiền phương lại
thôi thúc ông tái ngũ. Ông đánh giặc cho đến khi thành thương binh. Xuất
ngũ, máu chiến binh có chiến đấu tính rất mạnh mẽ lại thúc đẩy ông lao vào
cuộc đấu tranh xóa bỏ áp bức, bất công, bảo vệ nhân phẩm, đòi tự do, dân
chủ cho nhân dân.
Góp
ý với đại hôi IX Đảng Cộng Sản Việt Nam, trong bài "Phải cải cách chính
trị cùng với cải cách kinh tế", ông viết : "…Cầm quyền như hiện nay
Đảng ta trở thành một thứ Đảng độc quyền, Đảng trị. Gọi là Đảng độc quyền
vì khi Bác Hồ còn sống, còn có đảng Xã Hội, đảng Dân Chủ. Nay chỉ còn có
một đảng cộng sản. Gọi là đảng trị vì Đảng thống trị, ngồi lên đầu dân,
quyết định hết nhưng không chịu trách nhiệm trước dân… Tình hình đất nước
ta ngày càng tụt hậu xa so với thế giới về kinh tế, ngay cả những nước gần
cận trong khu vực. Nạn tham nhũng tràn lan không bài thuốc chũa trị, từ
người lái xe ôm đến bà bán nước vùng quê đều rõ, sao những người lãnh đạo
Đảng Cộng Sản Việt Nam không thấy mà lúc nào cũng chỉ muốn người ta tung
hô Đảng sáng suốt, Đảng quang vinh, đời đời nhớ ơn Đảng… Muốn cứu vãn tình
thế không thể chỉ đổi mới bằng cải cách kinh tế mà phải nhanh chóng triệt
để cải cách, đổi mới chính trị. Phải nói thẳng là cải cách - đổi mới chính
trị, không thể nói là cải cách - đổi mới hành chính, một kiểu nói lừa dối
lương tâm… Người đứng đầu Đảng và Nhà nước (chủ tịch nước hay tổng thống)
phải là một. Đảng cử ra ba bốn người rồi để dân trực tiếp bỏ phiếu. Không
thể như hiện nay, Đảng cử ra tổng bí thư thì tự nhiên dân phải nhận là vua
của mình rồi. Sự thật đó là vua của Đảng Cộng Sản Việt Nam chứ có phải của
dân đâu… Phải thật sự bầu cử tự do. Người dân được tự do ứng cử, xoá bỏ
việc mọi danh sách phải thông qua Mặt Trận Tổ Quốc. Đó là một việc làm lừa
bịp, trấn áp trắng trợn người tài một cách bẩn thỉu, đáng khinh mà những
người cầm đầu Mặt Trận Tổ Quốc đã có lúc tự nhận mình chỉ là "cây cảnh" …Quân
đội, công an là công cụ vũ trang của Nhà nước, không phải của riêng Đảng.
Trả lại câu nói của Bác Hồ : "Quân đội ta trung với nước, hiếu với dân".
Tự sửa câu nói lịch sử của Bác Hồ là bất hiếu, bất trung… Đảng Cộng Sản
Việt Nam phải xin lỗi vụ Nhân Văn - Giai Phẩm, vụ Xét Lại, vụ Kim Ngọc, vụ
án Trường Xuân. Các vụ này xử lý oan bao nhiêu hiền tài của đất nước. Dân
sẽ thông cảm, tha thứ cho Đảng, coi đấy là những sai lầm của sự ngây thơ
một thời, nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam thành thật xin lỗi, rút bài học cho
bản thân…".
Trong bài "Tôi tự ứng cử Quốc hội để làm gì ?", ông viết : "Rồi
lại gần đây, việc ký hiệp định biên giới và vùng biển Việt - Trung. Dư
luận xôn xao, Quốc hội Việt Nam đã thông qua chưa ? Hiệp định Thương mại
Việt - Mỹ chỉ là hiệp định buôn bán giữa hai nước mà còn làm đủ mọi thủ
tục trình, rồi thông qua Quốc hội như diễn kịch. Vậy sao cái Hiệp định
biên giới và hải phận quan trọng ngàn đời đối với danh dự và lương tâm non
sông đất Việt mà lại ký vụng trộm như vậy sao ?".
Trong bài "Đại tướng quân Võ Nguyên Giáp không phải là bí thư Quân ủy
trung ương mà cũng chẳng phải là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân
dân hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ ?", ông viết : "Vừa
rồi tivi ta có chiếu bộ phim về đại tướng Lê Đức Anh. Họ ca ngợi ông ta
đẹp làm sao, hay làm sao, vĩ đại biết bao ! Với ông ta, loại như tôi, xa
vời quá cho nên không dám bình luận. Chỉ xin phép nhắc lại cái thời tôi
làm tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự thuộc Viện Lịch Sử Quân Sự Việt
Nam, ông ta là đại tướng, Bộ trưởng quốc phòng, siêu cấp trên của tôi. Tôi
được ông Ngọc, thiếu tướng, thư ký của ông ta gọi lên mấy lần để gặp ông
ấy. Tôi đều cảm ơn xin cáo vì quá bận việc. Sự thật là vì lúc ấy tôi biết
họ đang làm quyển sách "Đường thời đại", bốn tập, do nhà xuất bản Quân Đội
Nhân Dân xuất bản. Nếu gặp, e rằng ông đại tướng Lê Đức Anh ấy ra lệnh
phải tham gia thì bỏ xừ. Nhận thì là kẻ vô lương tâm với lịch sử, mà từ
chối thì đừng có đùa. Do đó, xin cáo vậy".
Đại tá
Phạm Quế Dương có tội không ?
Con
người trung thực, thánh thiện như thế chắc chắn chưa hề phạm tội. Tuy
nhiên, nếu xét "phạm thượng" là tội lớn thì, nếu không được Trời Phật phù
hộ độ trì, hẳn ông đã mắc vòng lao lý từ lâu rồi. Ông tuổi Tân Mùi (1931).
"Tân biến vi toan, hiển vinh thì it, gian nan thì nhiều", các cụ xưa bảo
thế. Riêng cái tội khinh khi đối với ông Lê Đức Anh như thế, nếu không cao
số, nhiều người đã đủ chết rồi. Huống chi ông thường nhiều khi gay gắt,
khinh mạn một cách quá trớn, không nên, mà cũng không cần thiết. Cũng
trong bài vừa kể có đoạn ông viết : "Không biết ông Hà Đăng có đi lính
không ? Và nếu đi lính thì ông có là lính đánh nhau không hay chỉ làm "phóng
văn lình". Các cụ xưa có câu : "Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ lai
chinh chiến kỷ nhân hồi". Lính có loại kia, loại nọ. Loại "phóng văn lình"
tức là lính văn phòng, không trực tiếp đánh nhau nhưng gần cấp trên, giỏi
nịnh hót nên lên cấp chức vù vù, thậm chí lính đào ngũ vẫn lên tướng. Loại
tướng ấy gọi là "tướng lên đài", tức là đái lên tường".
Trong bài "Xin mời làm rõ ai là kẻ cơ hội", có đoạn ông viết : "…Sự
việc nếu chỉ thế thôi thì cũng chẳng cần quan tâm. Vì đối với những người
lính dám đánh nhau thì Lê Đức Anh dù có là cái tướng gì cũng chẳng để lại
dấu ấn tốt đẹp nào đối với lịch sử trong sáng của dân tộc, của quân đội ta".
Trong bài "Xin mời cùng làm rõ ai là kẻ lén lút", sau khi vạch rõ
chân tướng cái ông tướng Nguyễn Đình Ước xuất phát từ một tên lính đào ngũ,
cái ông phó giáo sư Nguyễn Đình Ước nhờ xin xỏ được đặc cách, được chiếu
cố (có khoảng chục bài của Tào Mạt, Đào Thái Tôn, Nguyễn Hữu Đức… từng đề
cập đến việc này), can cớ gì ông Dương lại đi cà khịa lung tung : "Cái
lũ phong cho ông hàm phó giáo sư cũng câm miệng cả ! …Bọn phong tướng cho
ông cũng chả nói chi ! …Và cái Quốc hội mà công dân nghiêm chỉnh viết bức
thư kia gửi cả niềm tin vào cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước pháp
quyền cũng câm tịt" !
Tiêu
đề một số bài viết của ông Dương cũng thật là khinh mạn : "Viện Kiểm
Sát Nhân Dân Tối Cao nên đi học thêm văn hóa và pháp luật", "Kẻ lưu manh,
dối trá"… Thậm chí, đối với tổng bí thư Nông Đức Mạnh, ông cũng nỡ
lòng nào trích từ đâu đó đoạn thơ "Tài Nông mà đức cũng Nông …" !
Dù
là đấu tranh chống cường quyền tôi cũng không ưa lối viết, lối nói quá bỗ
bã, đốp chát. Tôi cũng không đồng tình với những chuyện đả kích cá nhân
quá xô bồ.
Ngoại trừ vài ba nhân vật không ai không thể không oán giận, khinh ghét :
một ông tổng bí thư Đảng, sau chiến thắng 1975, vì quá huênh hoang, hợm
hĩnh đã đẩy dân tộc trầm luân thêm trong hai cuộc chiến rất không đáng có,
đánh Campuchia và đánh Trung Quốc… ; một ông trưởng ban tổ chức trung ương
Đảng ám hại bao nhiêu hiền tài, vu cáo cả cho đại tướng Võ Nguyên Giáp là
tay sai mật thám Pháp… ; một ông chủ tịch nước mắc rất nhiều lời đồn đại
khả tín về khai man lý lịch vào Đảng, về liên quan trực tiếp đến cái chết
của tướng Nguyễn Bình, đến vụ Năm Châu - Sáu Sứ…, hầu hết tất cả những
người khác đều là những con người có ưu, có khuyết, có tốt có xấu như
chúng ta. Rồi cũng như họ, nếu đặt chúng ta vào cương vị cao trong cơ chế
này, hẳn chúng ta cũng phải nói gần như họ, làm gần như họ. Tôi đã từng
quen một số người nay có chức tước rất cao, đang bị nhiều người oán giận,
xỉ vả. Song, trước đây khi còn hàn vi với nhau, tôi từng yêu quý cả về tài
năng lẫn đức độ của họ. Cho nên vấn đề cơ bản là phải đấu tranh, có thể
rất gay gắt quyết liệt, với những đường lối, chủ trương, chính sách sai
lầm của Đảng. Phải thuyết phục, thậm chí tạo sức ép mạnh cho đổi mới thực
sự, cải tổ thực sự, sao cho đáp ứng được yêu cầu và khả năng thực sự của
đất nước, hòa hợp thực sự được với trào lưu tiên tiến của thế giới. Trong
một chế độ chính trị ưu việt thì người xấu cũng sẽ thành tốt, trong một cơ
chế đúng đắn, minh bạch thì không những sẽ hạn chế được quan tham mà kẻ cơ
hội, gian hùng cũng không thể trở thành độc tài, tàn bạo được.
Dẫu
sao cũng không thể xem đại tá Phạm Quế Dương là một tội phạm. Ông ấy có
những khuyết nhược điểm rất đáng chê trách. Tuy nhiên nếu vì bị xúc phạm
mà trở nên hận thù, ỷ quyền, cậy thế tạo ra cả một "thế trận bát quái"
giăng bẫy, vu khống, bôi nhọ, tuyên truyền tạo dư luận để hãm hại ông ấy,
thậm chí ghép ông ông ấy vào tội tầy tròi không thể có : tội gián điệp thì
thật là gian manh quá mức, độc ác quá mức. Lòng người tất sẽ oán thán mặc
dù không dám biểu lộ công khai. Trờì rồi sẽ không dung. Đất rồi sẽ không
tha.
Xin
được dẫn ra đây đoạn kết bài viết ngày 15 tháng 2 năm 2004 của nhà văn,
cựu chiến binh chống Pháp Hoàng Tiến : "Những người như ông Phạm Quế
Dương là những người yêu nước. Trừng phạt những người yêu nước là một tội
ác. Nếu cứ xét xử cho thỏa lòng tức tối cuả lệnh trên, thì người viết bài
bào chữa này xin chịu hình phạt cùng ông Phạm Quế Dương. Người Việt Nam
coi trọng đạo lý, tôi xin dâng thân xác mình để cảnh tỉnh những nhà cầm
quyền đừng nên làm điều thất nhân tâm quá đáng".
Những kẻ lạm dụng quyền lực hãy biết tự răn để tỉnh táo nhận được ra rằng
trong hơn tám mươi triệu người Việt Nam đang sống cả trong và ngoài nước
tất phải có biết bao nhiêu Hoàng Tiến.
Hà Nội 24
tháng 2 năm 2004
Nguyễn
Thanh Giang