|
Đổi mới ở Việt nam và ở Trung quốc ; So sánh và nhận định ; Sự lựa chọn tối
ưu cho Việt nam
Bùi Tín
LTS: Nhân Tuần
lễ Quốc tế(International week) hằng năm của Đại học G. Mason (giữa tháng
4-2004) nhà báo Bùi Tín hiện sống ở Paris đã được mời đến trình bày về đề
tài nghiên cứu trên. Dưới đây là bản tóm tắt bài thuyết trình.
I .- Từ phe
XHCN hùng mạnh một thời .
- VN và TQ có nhiều nét tương đồng :
+
cùng vốn là nước nông nghiệp lạc hậu, chịu ảnh hưởng lâu đời của nền văn hóa
Nho giáo của đạo Khổng, theo chế độ độ quân chủ phong kiến từ xa xưa, trước
đây là nửa thuộc địa và thuộc địa của các nước đế quốc phương Tây, vừa giành
lại độc lập trong thế kỷ 20 ;
+
VN (từ 1945 đối với miền Bắc ,từ 1975 đối với cả nước) và TQ (từ 1949),
đảng CS giành chính quyền và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân do đảng CS độc
quyên lãnh đạo, và sau đó xây dựng chủ nghĩa xã hội . Cần chú ý khái niệm
‘dân chủ nhân dân ‘ là sáng tạo ngôn từ của J.Danov và Staline ,
chẳng có gì là ‘nhân dân’, càng không có gì là ‘dân chủ’, từng làm mê
hoặc không ít trí thức cánh tả phương Tây. Khái niệm ‘ XHCN ‘ cũng mơ hồ và
giả dối không kém, vì sở hữu toàn dân, các cơ sở quốc doanh , chế độ bao cấp
…trên thực tế chỉ là chia đều sự thiếu thốn cho dân thường, bên tầng lớp
quan chức ‘nomenclatura‘ hưởng thụ đặc biệt.
Phe XHCN - mà VN và TQ là 2 nước thành viên - được hình thành từ sau thế
chiến 2 đã có thời cường thịnh, nhất là từ cuối những năm 50 và trong những
năm 60 ,do cường độ lao động áp đặt nghiêm ngặt, kế hoạch chặt chẽ cho toàn
xã hội như trong trại lính. Phe ấy gồm nước rộng lớn nhất thế giới (Liên
Xô, một khối liên minh 16 nước) cộng với nước đông dân nhất thế giới (Trung
Quốc) , từng lập kỳ công khoa học kỹ thuật như : phóng vệ tinh nhân tạo
đầu tiên Spoutnik ; phóng nhà du hành vũ trụ đầu tiên Gagarine ; nữ du hành
vũ trụ đầu tiên Terechcova ; đưa dụng cụ khoa học đầu tiên lên mặt trăng và
lên Sao Kim ; tạo ra tàu phá băng đầu tiên chạy bằng sức nguyên tử Lénine ;
xây dựng nên sức mạnh quân sự tiến công chiến lược xấp xỉ với Hoa kỳ. Đã có
lúc phe XHCN được một bộ phận trí thức cánh tả ở Tây Âu, Hoa kỳ và thế giới
sùng bái là mang tương lai của loài người tiến bộ, văn minh , với hình ảnh
một lực sĩ trẻ tràn sinh lực sắp bỏ xa phía sau đối thủ già nua bệnh tật ;
nhược điểm chỉ là sinh sau đẻ muộn,vào vòng đua sau đối thủ của mình .
Nhưng…điều
phải đến đã đến. Phe XHCN lâm vào khủng hoảng và tan vỡ,với bức tường
Berlin
sụp đổ, do bản chất phi nhân, độc đoán của nó, đi ngược với những
giá trị phổ cập của thời đại ,mà những thủ đoạn tuyên truyền tinh vi và xảo
quyệt không sao che dấu nổi .
Thời
kỳ bành trướng rộng nhất của phe XHCN do các đảng CS lãnh đạo là vào cuối
thập kỷ 70, sau khi VN được thống nhất (1975), nước Lào thống nhất (1975),
VN tiến công chiếm đóng Cambốt (1978 – 1988), Liên xô tiến công chiếm đóng
Apganistan (từ cuối 1979), hàng vạn quân Cuba đổ bộ chiến đấu ở Angola,
Ethiopia, … , các nước Cuba, Nicaragoa ở châu Mỹ, các nước Modămbich,
Madagasca ở châu Phi, nước Nam Yémen ở Trung đông …đều được coi là thành
viên chính thức hay ‘’ dự bị ‘’ của phe XHCN, cùng với gần một chục nước
XHCN ở Trung và Đông Âu . Thời kỳ hoàng kim của phong trào CS lúc ấy còn
được đánh dấu bởi thế lực khá mạnh của các đảng CS lớn ở Pháp, Ý, Nhât bản,
Nam dương(trước1965) … với sự phối hợp, lãnh đạo đầy quyền uy và hiệu quả
của ĐCS LX .
Phe XHCN tan vỡ cuối thế kỷ 20 - đánh dấu sự kết thúc của chiến tranh
lạnh - là sự kiện lớn nhất tác động đến số phận của mọi nước, dân tộc và con
người trên hành tinh này. Còn rơi rớt lại của phe XHCN là : TQ, VN, Bắc
Hàn và
Cuba,
những nước còn tự nhận là theo chủ nghĩa Mác – Lénin và xây dựng CNXH.
4
nước XHCN tàn dư của phe XHCN hùng mạnh một thời ấy đang cố cưỡng lại số
phận hiểm nghèo để tồn tại.
Số
phận của Cuba chẳng mấy sáng sủa sau khi nguồn cung cấp nhiên liệu,
vũ khí, ngoại tệ từ Liên xô cạn kiệt, với lãnh tụ độc tài Fidel Castro ốm
yếu, khi một loạt nhân vật quốc tế được giải Nobel từng hô:’’Cuba si, Yankee
no’’ xoay chiều hô lớn : ‘’Cuba si, Fidel no’’. Dân
Cuba
và dư luận thế giới đang bàn nhiều đến thời kỳ ‘’ hậu Fidel ‘’ của Cuba.
Số
phận của Bắc Hàn còn bi đát hơn. Chế độ CS kiểu phong kiến cha truyền
con nối, với nạn đói triền miên, các trại tập trung tù chính trị khủng khiếp,
lại đang bị các nước chiếu tướng xét nét, cảnh cáo, dọa trừng phạt về sản
xuất bom nguyên tử ; dư luận đã bàn đến thời kỳ ‘’hậu họ Kim ‘’ của Bắc Hàn.
Trừ
2 nước trên, chỉ còn TQ và VN, 2 nước XHCN rơi rớt lại, đang cố sống sót để
tồn tại bằng con đường ‘’ Đổi Mới ‘’. Việc so sánh, đối chiếu cuộc
đổi mới ở 2 nước để rút ra những nhận xét và kết luận là cần thiết, thú vị
và bổ ích .
II.-Những
nét tương đồng trong đổi mới của 2 nước TQ và VN
Từ đầu
thập kỷ 80 toàn phe XHCN lâm vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng Liên xô
bắt tay vào đổi mới với ‘perestroika’ rồi ‘glasnot’ , nhưng tất cả đều đổ vỡ
vì chế độ độc đoán phi nhân không thể sửa đổi được nữa, theo cách nhìn trung
thực của Gorbachov.
Liên xô
trải qua cuộc tự xét mình tuy đau đớn nhưng triệt để đã giải thể đảng CS LX,
giải thể Liên bang xô viết, xây dựng nền dân chủ đa nguyên và nền kinh tế
thị trường, hòa nhập với thế giới hiện đại với muôn vàn khó khăn của bước đi
lên mới mẻ. Thuận lợi lớn nhất của nước Nga và các nước cũ của Lxô là dù sao
nay cũng đã thuộc một nền văn hóa – chính trị cao hơn Liên xô cũ một tầng
cao ưu việt.
Đảng
CS TQ và VN vì một mực theo một học thuyết xa lạ, vì chỉ coi trọng quyền lợi
nhỏ hẹp của phe đảng, đã ‘’ đổi mới ‘’ có chừng mực và tính toán nhằm vượt
qua khủng hoảng mà vẫn duy trì độc quyền lãnh đạo của đảng CS . Cùng chung
luồng suy nghĩ ấy, ‘đổi mới ‘’ ở 2 nước có chung những nét sau :
-duy trì quyền lãnh đạo độc quyền của đảng CS ; kiên
quyết phản đối nền chính trị đa nguyên, khước từ chế độ dân chủ, bóp ngẹt và
hạn chế tự do tư tưởng, tự do bầu cử, tự do báo chí và tự do tôn giáo (với
những màn hỏa mù về những quy định,sắc lệnh về dân chủ ở cơ sở !)
-chỉ đổi mới về kinh tế với những bước đi thận trọng,
cho phép tư nhân kinh doanh thương nghiệp, công nghiệp nhỏ, dịch vụ ;cho
nông dân chuyển nhượng quyền sử dụng đất ; cho phép công dân tự do đi lại,
nới lỏng xuất nhập cảnh, làm cho cuộc sống xã hội dễ thở hơn, không khí làm
ăn sôi động …nhưng vẫn coi các cơ sở quốc doanh là nòng cốt.
-ra sức thu hút đầu tư từ nước ngoài, mở rộng giao
thương quốc tế, tranh thủ sự trợ lực của WB (Ngân hàng thế giới), IMF(Quỹ
tiền tệ quốc tế), gia nhập WTO(Tổ chức buôn bán thế giới), mở rộng du lịch
quốc tế .
-trong quan hệ quốc tế, tuy 2 nước đều công bố chủ trương kết bạn với
mọi quốc gia trên thế giới, nhưng trong nội bộ đảng lại quy định độ đậm
nhạt khác hẳn nhau : đậm đà với các nước cùng chung chế độ chính trị,
gần gũi về bản chất với mình (cùng theo độc đảng, cùng bản chất chuyên chế…),
thận trọng giữ thế thủ với các nước dân chủ phương Tây, đặc biệt nghi kỵ dè
dặt với Hoa kỳ, từng là kẻ thù chính của phe XHCN, nơi xuất phát mưu đồ
‘diễn biến hòa bình ‘ , đã từng - theo đánh giá của họ - làm tan tành phe
XHCN, làm tan vỡ Liên xô và nay lại đang nuôi ý đồ làm thay đổi chế độ các
nước XHCN còn rớt lại .Do đó TQ và VN luôn có 2 giọng nói khi đề cập
đến hữu nghị, hợp tác và hòa nhập với thế giới (một giọng ngoại giao, tuyên
truyền và một giọng rỉ tai trong nội bộ đảng )
-mặc
dù bộ máy thông tin, văn hóa, tư tưởng ,giáo dục chính trị…nhắc đi nhắc lại :
trung thành với chủ nghĩa Marx-Lénine, với tư tưởng Mao Trạch Đông, với tư
tưởng Hồ Chí Minh, với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xây dựng CNXH, theo định
hướng XHCN, tiến lên xây dựng CNCS … thì trong thâm tâm của họ, những khái
niệm ấy chẳng còn nội dung vốn có ; đó chỉ là những danh từ ‘ ảo ‘ ,nhắc
lại theo quán tính, để giữ một thế ổn định nào đó về chính trị và tâm lý ;
-trong
khi đó, những người lãnh đạo không nói ra nhưng lại cùng hiểu ngầm rằng :
chủ nghĩa Marx chẳng còn sức sống, phong trào CS đã vào thời thoái trào khó
lòng phục hồi, chế độ độc đoán và độc đảng ngày càng bị cô lập, lên án ; họ
cũng nhận ra rằng quá khứ đấu tranh và cầm quyền của họ có những kỳ tích
oai hùng có ý nghĩa lịch sử, nhưng đồng thời cũng phạm không ít sai
lầm to lớn về đường lối và chủ trương, gây tổn thất về sinh mạng, tài
sản, thời gian của đất nước, nhân dân. Họ cảm thấy thế, nhưng không đủ dũng
khí để làm một cuộc tự phê bình nghiêm chỉnh, sâu sắc, do thiếu tự tin và
cũng không tin ở nhân dân có thể tha thứ, e rằng sẽ mất hết tính chính
đáng, bị gạt bỏ thì mất hết. Lòng tham chức quyền, tham đặc lợi làm họ
mù quáng nhu nhược (lập trường mù quáng của họ khác hẳn với thái độ phục
thiện, ngay thật của đông đảo đảng viên thường, đảng viên đã về hưu, có
lương tri, gắn bó với nhân dân, xã hội).
-hiểu
rõ những gánh nặng của gia tài tinh thần trong quá khứ, họ lặng lẽ từ giã nó
,không kèn không trống, để cố miễn cưỡng chạy theo những giá trị của thời
đại, chính những giá trị mà trước đây họ xa lánh, dè bỉu và phê phán . Có
thể nói đó là cuộc tháo chạy ra phía trước, đầy bi kịch, từ biệt con
đường cũ, được đặt tên một cách đẹp đẽ kiểu quảng cáo thị trường là ‘’ Đổi
Mới ‘’. Các khái niệm : dân chủ, thị trường, cạnh tranh, quảng cáo, lợi
nhuận, quyền sở hữu, quyền tư hữu, ngân hàng cổ phần, lãi suất, hối đoái,
đầu tư, hùn vốn, chứng khoán…,cho đến quan hệ với WB, IMF, ADB (Ngân hàng
phát triển Á châu) , Liên Hợp Quốc, ASEAN … đều mang nội dung rộng lớn khác
hẳn trước ; hàng trăm đạo luật đủ loại được khẩn trương xây dựng trong khi
quốc hội tập bài học vỡ lòng về dân chủ nghị trường : chất vấn tý chút vài
bộ trưởng, lắc đầu với vài cuộc bổ nhiệm thành viên chính phủ …
III .- Ưu
và khuyết điểm chung của Đổi Mới ở 2 nước TQ và VN :
1 .- Ưu điểm chung :
+ do đổi mới mà kinh tế phát triển với tỷ lệ cao, chấm dứt tình trạng
thiếu lương thực, hàng tiêu dùng triền miên thời trước; nền kinh tế năng
động, kinh doanh tấp nập ; nông nghiệp phát triển, nông sản dồi dào ; đời
sống nông thôn và thành thị đều khấm khá;
+ qua cuộc tan vỡ của phe XHCN rộng lớn, qua sụp đổ của bức tường Berlin,
qua sự tan biến của đảng CSLX và Liên bang Xô viêt hùng mạnh một thời - tác
động như một cuộc động đất chính trị có độ Richter cao nhất - đảng CS TQ và
VN giật mình hoảng sợ, cố cùng nhau trụ lại, thúc đẩy đổi mới, coi đó
là biện pháp cơ bản để tồn tại và phát triển .Họ buộc phải mở cửa,
thực hiện chính sách ngoai giao hòa bình hữu nghị và hợp tác với thế giới.
Cho đến nay, 2 nước đã cải thiện đáng kể quan hệ quốc tế.
+ do đổi mới như trên, vị trí của đảng CS 2 nước được tương đối ổn
định, tránh được nguy cơ bị mất quyền như ở Liên xô và Đông Âu, nhưng
nhiều bất trắc hiểm nghèo còn ở phía trước.
2 .- Khuyết điểm và nhược điểm chung :
+
trong thực hiện đổi mới , duy trì chế độ độc đảng, tức là duy trì chế
độ độc đoán cực quyền, phản dân chủ - một mình một chiếu - ,TQ và VN vẫn cố
tình duy trì đất nước trong một tầng văn hóa – chính trị thấp, thấp
hơn của mức trung bình của thế giới hiện tại . Đây là khuyết điểm và nhược
điểm cơ bản, chết người. Vấn đề này đã và đang đặt chế độ chính trị 2 nước
và 2 đảng CS ngày càng đối lập với nhân dân từng nước - với
dân trí ngày mỗi được nâng cao trong thời mở cửa -, đồng thời đối lập với
công luận thế giới ngày càng bén nhạy với nhân quyền, quyền sống tự do
của con ngườì ở mọi nơi.
+
do chế độ độc đảng nên tất nhiên quyền dân chủ trong xã hội của mọi công dân
bị hạn chế, cấm đóan ,những quyền tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí, tổ
chức, tôn giáo … ghi trên hiến pháp chỉ là giả dối và khiêu khích lẽ phải;
việc xây dựng nhà nước pháp quyền bị ngáng trở do đảng dù muốn hay
không vẫn cao hơn luật pháp; do đảng CS độc quyền lãnh đạo, các đảng viên
quyền cao chức trọng mặc sức thao túng, bênh che nhau, thiếu thế lực chính
trị để cân bằng, ganh đua và giám sát , nên các quốc nạn tham nhũng, quan
liêu không sao chế ngự được (các vụ xử tử hình kẻ tham nhũng chỉ như
muối bỏ bể, là những vật tế thần không xoa dịu nổi lòng dân đã thức tỉnh);
khẩu hiệu xây dựng xã hội công bằng, văn minh dù có thiện chí mãi mãi
chỉ là khẩu hiệu suông, làm trò cười cho thiên hạ .
+ một khi đã nhận số tiền đầu tư cực lớn từ bên ngoài, đã được WB và IMF
…viện trợ, cho vay với lãi suất thấp những khỏan tiền lớn, chuẩn bị hoăc đã
gia nhập WTO (Tổ chức thương mại quốc tế) , ký những hiệp định thương mại
tay đôi với các nước … thì bắt buộc TQ và VN phải tôn trọng luật pháp
quốc tế, cư xử theo luật văn minh đối với quốc tế cũng như đối với dân
nước mình, không thể theo luật rừng, hà hiếp dân nước ngoài hay công dân
nước mình, rồi leo lẻo rằng không ai được can thiệp vào tình hình nội bộ,
vào chủ quyền của nước mình. Nếu không, quan hệ quốc tế sẽ luôn bị trắc trở,
căng thẳng, bị động, không bình thường, thậm chí bị răn đe, cảnh cáo hoặc
trừng phạt …; lúc ấy, mọi sự có thể bị ngừng trệ một cách nguy hiểm .
+ trong thời kỳ đầu của đổi mới, tỷ lệ phát triển kinh tế có thể đạt
khá cao ,
do mức khởi đầu thấp và dự trữ phát triển còn dồi dào; với thời gian, tỷ lệ
phát triển
sẽ chững lại; do tham nhũng và quan liêu không thể chặn lại, khoảng
cách giàu nghèo mở rộng thêm, trong xã hội người lao động cần cù làm
cho bọn tham quan ô lại sống xa hoa; dưới ách độc đoán của nhà nước CS mang
tính chất cảnh sát ,các mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo (các dân tộc
thiểu số, các tôn giáo, trí thức và tuổi trẻ am hiểu thời cuộc) ngày càng
căng thẳng, có thể đi đến bùng nổ quyết liệt chống lại bạo quyền thô bạo.
Đổi mới sẽ mất đà, hụt hơi; xã hội lâm vào khủng hoảng. Chính quyền
độc đoán dễ đi vào thời kỳ mất ổn định, bâp bênh,nguy hiểm cho chế độ.
+ do chưa quen với khái niệm ‘’trong sáng ‘’ (transparency), theo nếp
cũ ‘đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại ‘ nhằm tuyên truyền, những con số thống kê
về thành tich đổi mới của 2 nước đều có vẻ cao hơn sự thật .Tất cả
cần được rà soát kỹ. Những con số sai lệch có thể có phản tác dụng,không có
thực chất, làm cho lãnh đạo và công luận lầm lẫn về đánh giá, chủ
trương và biện pháp hành động.
IV .- Những
nét khác nhau trong đổi mới của TQ và VN :
+ Đổi mới của TQ bắt đầu sớm hơn ở VN đến gần một chục năm.
TQ bắt đầu từ cuối năm 1978 ; VN từ giữa năm 1986.
+ TQ có hệ thống tư tưởng đổi mới do Đặng Tiểu Bình xây
dựng và phác họa, nhằm chấn chỉnh tình hình chính trị và kinh tế bị tàn phá
và đình đốn do cuộc Cách mạng văn hóa vô sản gây nên,sau khi loại bỏ ‘’lũ 4
tên ‘’ và tàn dư của chúng.
VN đổi mới
trong khi gắn bó với Liên xô bởi Hiệp ước Liên minh Hữu nghị ký năm 1978 và
sau cuộc chiến tranh biên giới với TQ đầu năm 1979; bắt đầu bởi Đại hội
đảng lần thứ 6, tháng 12 năm 1986 ,giữa cuộc khủng hoảngtrầm trọng.
+ Do đó TQ có nhà kiến trúc sư Đổi mới của mình : Đặng
Tiểu Bình , với những phác họa chiến lược : từ bỏ giáo điều, trở về kinh tế
thị trường, chủ nghĩa thực dụng : mèo đen hay mèo trắng, miễn là bắt được
chuột; khai thác tiềm năng quốc gia và từng địa phương, đột phá vùng ven
biển . Đổi mới ở VN từ 1986 là phác họa theo phương án Perestroika
của Liên xô ,theo nội dung: từ bỏ bệnh duy ý chí, chủ quan, nóng vội, buông
lỏng quản lý;chống cả ‘tả ‘ và ‘hữu ‘khuynh…; sau khi Liên xô tan vỡ cuối
năm 1991, VN lại quay sang suy tôn TQ làm thầy, với lời nói trứ danh
của tổng bí thư Lê Khả Phiêu cuối năm 1997 : ’’những kinh nghiệm đổi mới của
TQ có ý nghĩa quyết định đối với sự đổi mới ở VN; TQ thành công thì VN cũng
thành công ‘’.Các nhà báo và học giả nước ngoài thường hỏi : ai là nhà kiến
trúc sư, nhà tư tưởng của đổi mới ở VN? Hànội rất lúng túng, thường đáp :
tập thể !(nghĩa là không có ai cả!)
+ Ở TQ, sau Đặng, Giang Trạch Dân được suy tôn là nhà
lý luận tiếp nối của đổi mới, sáng tạo ra học thuyết ‘’Ba đại biểu ‘’ ,mở
rộng khái niệm nhân dân, động lực cách mạng bao gồm công nhân cùng lao đông
chân tay ,trí thức và nhà quản lý kinh doanh (trước kia thường gọi là tư sản,
đối tượng cần loại bỏ của đảng CS) ; sau Giang, nay đến lượt Hồ Cẩm Đào
cùng Ôn Gia Bảo cũng trở thành nhà tư tưởng hiện tại của đổi mới, đã
đột phá vào vấn đề công nhận quyền tư hữu trong xã hội, và nhà nước
bảo đảm nhân quyền, với việc Quốc hội tháng 3/2004 đã sửa Hiến pháp
năm 1982; VN ,trái lại, đã qua 4 đại hội đảng, 18 năm đổi mới, nhưng
chưa có ai trong bộ chính trị được coi là nhà tư tưởng hay nhà lý
luận, hay là nhà lãnh đạo trụ cột, hoặc chí ít cũng là người
cầm đầu của đổi mới ! Có lúc VN mời ông Lý Quang Diệu sang làm cố vấn về
đổi mới, nhưng ông ta bỏ dở cuộc sau khi đến VN lần thứ 3 , vì thấy rõ bộ
máy lãnh đạo, quản lý, hành chính và hệ thống ngân hàng, tài chính, hải quan,
kế hoạch, đầu tư cũng như tư pháp và tòa án nặng nề, chồng chéo đến rối rắm,
hỗn lọan, vừa thừa vừa thiếu ,không giống ai, ở VN.
+ gần đây TQ ngỏ ý chuẩn bị từng bước cho nền dân chủ đa
nguyên, đa đảng; Nhân dân Nhật báo Bắc kinh đầu tháng 3/2004 kể ra tên 8
đảng và tổ chức chính trị đã và sẽ được hoạt động, đó là : Ủy ban Cách mạng
Quốc dân đảng Trung hoa ; Liên minh vì dân chủ Trung hoa; Liên minh Dân tộc
Xây dựng dân chủ Trung hoa; Liên hiệp Trung hoa Xiển dương dân chủ; Đảng
Công nông Dân chủ Trung hoa; Đảng Công ích Trung hoa; Hiệp hội mồng 3 tháng
9; Liên minh Dân chủ Tự quản Đài loan (cần xem xét các tổ chức này có do
đảng CS tổ chức ra hay chịu sự chi phối đến mức độ nào của đảng CS, vì hiện
Đảng Dân chủ Trung quốc mới thành lập phải vào bí mật và các đảng viên bị tù,
bị truy lùng).
+ Về mặt tâm lý, đổi mới ở TQ được tiến hành sau một
thời gian dài bị tàn phá bởi tác động và hậu quả cuộc Đại nhảy vọt và CM
văn hóa vô sản do Mao đề xướng trong suốt 2 thập kỷ 60 và 70. Thêm nữa
các vị đề xướng đổi mới như Đặng, Giang, Hồ và Ôn đều từng bị truất phế, đội
mũ lừa, ‘’cải tạo ‘’ lao động …rồi mới được phục hồi chức vụ và đề bạt, cho
nên họ có ý chí cao về đổi mới, hiểu sâu nhu cầu bức bách thay đổi
cho đất nước, dễ dàng thông cảm với những tầng lớp nghèo khổ bị bỏ
rơi. Ở VN nhóm lãnh đạo hiện tại lên đỉnh cao quyền lực có phần dễ
dãi, thuận buồm xuôi gió; thêm nữa họ vẫn còn tâm lý say sưa dai dẳng về
chiến thắng lịch sử chống Pháp, chống Mỹ và cả chống TQ, cho nên căn bệnh
tự mãn, chủ quan đơn giản trong đổi mới còn khá nặng, khó lường
được những khó khăn trở ngại, dễ bị bất ngờ .
V . -
Lượng định về đổi mới ở TQ.
Nhìn tổng quát, đổi mới ở TQ có nhiều thuận lợi hơn ở VN ;
được tiến hành sớm hơn gần một chục năm; có bài bản, tư tưởng, lý
luận phát triển từng bước ; có nhân vật cầm đầu bẻ lái cỗ xe đổi mới,
đồng thời có nhân vật chuẩn bị tiếp nối và xác định thế hệ lãnh đạo hiện là
thế hệ thứ tư ;
Một ưu thế đổi mới ở TQ là nhìn khá xa, dám sớm đột phá
vào các khâu gay go, có ý nghĩa chiến lược, như : công nhận tầng lớp
kinh doanh là thành phần tham gia cách mạng, được lựa chọn để kết nạp
vào đảng CS, thậm chí được tuyển chọn vào cơ quan lãnh đạo các cấp của đảng
và nhà nước; công nhận quyền sở hữu tư nhân, được hiến pháp
và luật pháp che chở; công nhận nhân quyền theo tư tưởng ‘đi với thời
đại ‘ ( tuy nhiên cần theo dõi tiếp việc cụ thể hóa thành pháp luật và quy
định để áp dụng vào cuộc sống , ví dụ như nhân quyền có bao hàm quyền hoạt
động chính trị theo quan điểm đa nguyên, đa đảng không )
TQ còn nhiều vấn đề chiến lược gay gắt ở trước mặt . Sau ¼
thế kỷ đổi mới, tỷ lệ phát triển khá cao và liên tục, thu nhập theo đầu
người hiện mới chỉ đạt hơn 900 us$ /năm , gấp 3 lần khi xuất phát
cuối thập kỷ 70, trong khi các nước phát triển cao đã đạt mức trên 2O.000
us$ . Do đó TQ cần chừng 20 năm giữ đà phát triển trong ổn định –
trong nước cũng như trên trường quốc tế - , nín thở qua sông, quyết chí bỏ
lại hình ảnh một người nông dân khổng lồ bần hàn, lạc hậu ,chỉ thạo đánh du
kích, để thành một cường quốc hiện đại về mọi mặt.
TQ phải luôn đề phòng một loạt quả bom nổ chậm rất
nguy hiểm trên con đường đổi mới; đó là : - nạn thất nghiệp lan rộng
ở cả nông thôn và thành thị, phình to với việc giải thể ,thu hẹp, cổ phần
hóa hàng chục nghìn cơ sở quốc doanh thua lỗ, số thất nghiệp lên đến 40
triệu mà vẫn còn tăng; - khoảng cách về sản xuất và mức
sống giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng ven biển và nội địa, vùng
đồng bằng với vùng núi,vùng sâu, vùng xa; - khoảng cách giàu ngèo mở
rộng ( từ mức gần như bình quân 30 năm trước, nay 2O% hộ giàu có tài sản gấp
20 lần hộ nghèo nhất , chưa kể hàng loạt triệu phú đôla, cả tỷ phú đôla ! )
; - nạn tham nhũng, quan liêu, xa hoa, móc ngoặc, cho đến mafia …hoành
hành bất trị, phung phí tài ản quốc gia, mặc dù đã có hàng trăm vụ xử tử
hình , làm phẫn uất công luận; - vụ đàn áp Pháp luân công có đến 60
triêu tín đồ gây nên công phẫn dai dẳng trong giới tín ngưỡng , trong khi
những gia đình nạn nhân vụ Thiên An Môn vẫn bền bỉ đòi công lý ; -
vụ chiếm đóng và đồng hóa theo kiểu Hán hóa cưỡng bức Tây Tạng vẫn là
vấn đề đấu tranh lớn của người dân Tây Tạng bất khuất trước cường quyền,
đươc thế giới Phật giáo và dân chủ ủng hộ ; - mạng lưới internet
ngày càng bủa rộng, tải đi những thông tin cực nhanh, cực phong phú, bất
chấp sự ngăn chặn, cấm đoán, phá phách của nhà nước cảnh sát , được trí thức
và tuổi trẻ dùng rộng rãi cho học tập, kinh doanh cũng như đấu tranh cho dân
chủ và tiến bộ xã hội.
Trong khi đó quan hệ Bắc kinh với Hong kong theo nội dung ‘’một nước
hai chế độ ‘’ là một thách đố gay gắt, một đĩa sơn hào hải vị có chứa thuộc
độc đối với chế độ độc đóan, vì qua con đường hòa hợp dân tộc ,con virus ‘’dân
chủ ‘’ với tập quán tự do ngôn luận, báo chí, xuất bản, tôn giáo, bầu cử
đang thâm nhập sâu vào lục địa chậm tiến về chính trị, tạo nên nhiều
nguy cơ mới cho chế độ. Mùi vị tự do có sức hấp dẫn mạnh hơn bất cứ
thứ gây nghiện nào; đã được hưởng tự do dân chủ rồi, ai cũng mong và đòi
được hưởng nhiều hơn nữa, không ai dại gì lại tự nguyện dâng lại cho đảng
cầm quyền ! Bắc kinh xử sự khi cứng khi mềm,
Hong kong
vẫn cứ là đứa con hư, khó dạy !
Đài
loan
là một
thách đố lớn hơn. Nguồn đầu tư từ đảo quốc này vào lục địa lên đến hơn 50 tỷ
us$, chẳng kém gì số đầu tư của gần 40 triệu Hoa kiều và người gốc Hoa trải
khắp nơi .Hàng triệu Hoa kiều và người Đài loan về thăm lục địa hằng năm,
kinh doanh, du lịch, viếng quê cũ , đưa về nếp sống mới, tư duy mới theo
hướng văn minh, đa nguyên, có luật pháp nghiêm minh …là những đợt sóng ngầm
làm sói mòn nền móng của chế độ độc đảng cực quyền .
Trong quan hệ quốc tế, TQ được coi trọng bởi tiềm năng kinh tế hùng
hậu, đặc biệt là bởi thị trường tiêu thụ hàng hóa hơn 1 tỷ dân; bởi
sức lao động khéo léo lại cực rẻ so với các nước; đồng thời do
tham vọng bành trướng và mưu đồ trở thành cường quốc hàng đầu, thậm chí
cường quốc hùng mạnh số 1 của thế giới trong trên dưới 20 năm, nên TQ vừa là
đối tác cực lớn trong quan hệ kinh tế thương mại thế giới, vừa là
đối thủ, là địch thủ nguy hiểm cần kiềm chế gắt gao của
các cường quốc khác .Chỉ khi nào TQ trở thành nước thật sự dân chủ thì lúc
ấy TQ mới phát triển hài hòa với tốc độ cao và trở thành nhân tố hòa
bình,hợp tác, hữu nghị trong vòng tay các dân tộc trên toàn cầu .
Nhìn chung lại, đổi mới của TQ tuy đạt nhiều kết quả rõ rệt, nhưng
vẫn chứa đựng những nhân tố bấp bênh, không vững chắc , thậm chí còn tiềm ẩn
nhiều nguy cơ đổ vỡ, mà 2 nguy cơ lớn nhất là đi ngược lại
những giá trị mà loài người đã đạt đến là tự do và dân chủ , và đi
ngược lại sự thức tỉnh của nhân dân - nhất là của tuổi trẻ Trung hoa - về
nguyện vọng xây dựng một xã hội công dân, có cả bánh mì (hay cơm gạo)
và hoa hồng ( tự do ), mà đảng CS đã long trọng hứa hẹn nhưng đã thất hứa,
chỉ đem lại những mất mát, đau thương, đàn áp, bất công.
Thắng lợI tốt đẹp của dổi mớI ở TQ tùy thuộc ở sự thức tỉnh về chính trị của
nhân dân TQ, nhất là của tuổI trẻ Trung hoa trong thời đại mới, đồng thời ở
bản lãnh lãnh đạo của nhóm lãnh đạo đảng CS TQ có thật lòng ‘đi với thời đại
‘ như họ nói hay không, có thật sự đặt lợi ích của dân tộc Trung Hoa lên cao
nhất, lên trên quyền lợi hẹp hòi của phe, đảng hay không.
VI .- Lượng
định về Đổi mới ở VN :
Với tinh thần trách nhiệm, thực sự cầu thị, nhìn thẳng vào sự thật, có thể
nhận định như sau :
+ nhờ đổi mới, VN vượt qua khủng hoảng nặng nề giữa thập kỷ
80, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống các tầng lớp nhân dân ; sản xuất
nông ngiệp, công nghiệp và dịch vụ , nhập khẩu và xuất khẩu đều phát triển
với tỷ lệ khá cao; thu hút nguồn đầu tư và giúp đỡ quốc tế khá lớn ;
+ so với TQ, đổi mới ở VN có những mặt yếu hơn : thiếu tư
tưởng, lý luận làm cơ sở cho đổi mới; thiếu hẳn nhà lãnh đạo chính , nhà
kiến trúc sư của đổi mới ;
thiếu chuẩn
bị các thế hệ kế tiếp, các nhóm lãnh đạo kế tiếp; do đó cứ phải bị động, hết
theo kinh nghiệm Liên xô lại chờ học theo TQ .
+ Chông tham nhũng, chống quan liêu hà hiếp dân,
chống lãnh phí quá yếu, ít kết quả, nghị quyết nhiều, hô khẩu hiệu nhiều
mà ít hành động ;
+ hệ thống kiểm sát, thanh tra, kiểm tra của nhà nước và
đảng đều yếu kém, không ngang tầm nhiệm vụ; chế độ trách nhiệm tập thể
và cá nhân đều rất yếu; chẳng lẽ trong hàng chục ngàn cán bộ cấp cao không
tuyển ra được vài trăm cán bộ có công tâm, có ý chí, một lòng một dạ diệt
giặc tham nhũng như diệt ngoại xâm ! chẳng lẽ trong hàng mấy trăm cán bộ
thanh tra, kiểm sát, xử án không phát hiện, bồi dưỡng được vài ông Bao
Công mới, am tường công lý, yêu nước, thương dân, lòng dạ thẳng băng,
giao cho các vị ấy nhiệm vụ cao quý và nặng nề tổ chức việc trừng phạt thật
nghiêm, không chút buông lỏng, mọi tên tham quan ô lại, bất kể ở cấp nào . Ở
TQ năm ngoái đã xử tử hình hơn một vạn tên trọng tội, mà xã hội vẫn
còn coi là còn quá nương tay ! Ở VN, báo chí nêu có trên 7 ngàn tội
phạm bị kết án tù vẫn ung dung sống giữa xã hội, mà các vị cầm quyền vẫn
thản nhiên !
+ Nhóm lãnh đạo đổi mới ở VN có vẻ không ý thức ra nguy cơ
về khả năng bị nhân dân và một bộ phận trong đảng chê trách và lên án do họ
bất lực và ù lỳ trong chống tham nhũng và quan liêu, về khả năng đảng bị
mất uy tín trầm trọng và có thể mất cả quyền lãnh đạo trước sự
khinh bỉ và bực tức của quần chúng, như ở TQ Hồ Cẩm Đào từng lớn tiếng cảnh
báo; cần nhận ra nguy cơ ấy mới có ý chí đổi mới nghiêm chỉnh .Có ngườI VN
yêu nước nào không cảm thấy hổ thẹn và xúc phạm khi mỗi đầu năm, VN lại
được bêu lên là nước đứng đầu hoặc thứ nhì về tham nhũng ở châu Á.
+ Nhóm lãnh đạo VN cũng chưa nhận ra điều rất bất
lợi cho họ và đất nước khi để cho các tổ chức nhân quyền quốc tế, các
nhân sỹ dân chủ có uy tín toàn thế giới, các nhân vật được giải
Nobel, các chính phủ, tổng thống, thượng nghị sỹ , các
báo, tạp chí, đài phát thanh lớn luôn bênh vực các chiến
sỹ dân chủ, các nhà lãnh đạo các tôn giáo ở trong nước bị họ bạc đãi, tù đày,
xử tội một cách tàn ác, chà đạp lên lụật tố tụng hình sự do chính họ thông
qua; họ chưa nhận ra thật rõ rằng không có gì phi lý hơn khi họ đã không bảo
vệ được nhân dân lại để cho người nước ngoài bảo vệ quyền tự do của đồng
bào bị chính họ bạc đãi ! Điều này ở TQ , Hồ Cẩm Đào có vẻ nhận ra,
đề ra quyết định: khi dân đi khiếu kiện cá nhân hay tập thể thì cơ
quan đảng và chính quyền phải tiếp đón chu đáo, tiếp nhận nghiêm chỉnh, trả
lời minh bạch, công bằng ; ở VN cho đến nay dân đi khiếu kiện
do bị bọn cương hào mớI hà hiếp vẫn bị xua đuổi, trừng phạt, trả thù; những
thanh niên thương dân, trọng công lý giúp dân khiếu kiện vẫn bị công an chìm
và nổi hành hạ rất bất nhân.
VII .- Kết
luận: một lựa chọn tối ưu về Đổi mới cho VN ta
Đổi mới thành hay bại có tác động quyết định đến vận mệnh dân
tộc, tương lai đất nước . Sau khi nhìn lại gần 20 năm đổi mới, những ưu ,khuyết,
nhược điểm, so sánh đối chiếu với nước láng giềng lớn, có thể nhận ra những
thay đổi và bổ sung cần thiết như sau :
+ nên có cuộc sơ kết sâu sắc về Đổi mới ở VN, thu lượm ý kiến một số
trí thức ,nhà nghiên cứu, nhà triết học, kinh tế, sử học, xã hội học, môt
số đảng viên về hưu, môt số thanh niên, phụ nữ có trình độ … sàng lọc, lựa
chọn để lãnh đạo có cơ sở suy nghĩ, cân nhắc .Nên lấy ý kiến của một số
trí thức Việt kiều có trình độ và thiện chí xây dựng; Đề cao tinh thần
tự phê bình sâu sắc, đón nhận những ý kiến mới mẻ dể cân nhắc và nếu hay thì
chấp nhận;
+ nên có niềm tự tin tự hào dân tộc; từ bỏ thái độ theo chân TQ, chờ
đợi để làm theo họ một cách bị động; thậm chí nên có thái độ tự tin , đổi
mới nhanh hơn TQ, đi tắt và đón đầu, vượt nhanh ra phía trước; nước
ta tuy nhỏ, có điểm thuận lợi , như người ta bé nhỏ, dùng mưu mẹo có thể vật
ngã đối thủ to lớn, nặng nề;
+ vấn đề công nhận quyền sở hữu tư nhân và tôn trọng nhân quyền,
ta đang chậm hơn TQ, cần suy nghĩ để khỏi chậm quá lâu, rất bất lợi; vì 2
vấn đề này được giảI quyết sẽ tạo nên phấn khởI trong nhân dân, thúc đẩy
kinh doanh và sản xuất, tạo niềm tin mới, đồng thời cải thiện đáng kể quan
hệ với thế giới; điều quan trọng là sau khi chấp nhận về nguyên tắc, ghi
trong hiến pháp và luật ,sắc lệnh, việc thực hiện trôi chảy, sòng phẳng
hơn nước láng giềng ( như trả tự do cho tất cả tù chính trị , kể cả các vị
tu hành thuộc mọi tôn giáo ) thì mới chứng tỏ là có chủ trương đúng;
+ nên sớm chấp nhận đa nguyên đa đảng theo luật chơi dân chủ áp dụng
rộng rãi trên thế giới, kết thúc sớm hơn TQ cảnh lạc lõng ‘’một
mình một chiếu’’, ‘’một mình một chợ’’ ; đảng CS chỉ có lợi, năng động
hơn, có sức sống hơn do có ganh đua, với công luận, nhân dân, cử tri làm
trọng tài .Theo luật bầu cử, các đảng đều phải tuân theo luật pháp, bình
đẳng, cấm vu khống, dùng sức ép, dùng tiền mua chuộc cử tri…Đảng CS vẫn có
khả năng được đa số dân tín nhiệm, dù không đạt 98%, hay 85% như trước thì
có đạt 70%, hay 60% … thì vẫn là quý vì có thực chất, qua ganh đua trung
thực;
+ Đi cùng với thực hiện tôn trọng nhân quyền, đa nguyên đa đảng, nên ganh
đua với TQ trong sớm thực hiện một xã hội công dân cởi mở, văn minh tiến
bộ, có đủ các tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí, xuât bản , tự do tôn
giáo (trả lại cho giáo hội các cơ sở vật chất bị chiếm dụng, quyền cử các
chức sắc tôn giáo, việc mở các trường đào tạo giáo chức)
+ Đối với nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh, nên có cách nhìn thấu đáo
hơn;từ bỏ kiểu sùng bái, giáo điều cũ; nên tham khảo cách nhìn của lãnh đạo
đảng CS TQ gần đây đối với ông Mao. Đó là vẫn ghi tư tưởng Mao trong Điều lệ,
Cương lĩnh của đảng, trong Hiến Pháp, vẫn giữ lăng Mao, nhưng không còn dẫn
ra lu bù những lời dạy của Mao, không còn in sách bìa đỏ của Mao cho thanh
niên, viên chức học; họ giải thích Mao sống trong thời đại đã qua, thuộc thế
hệ thứ nhất, nay đã sang thế hệ thứ tư và chuẩn bị thế hệ thứ 5; thế hệ thứ
nhất không có điều kiện dùng máy tính cá nhân, điện thọai di động, thư điện
tử email, website, paltalk…,máy bay siêu âm, không dự đoán ra kết thúc của
chiến tranh lạnh cũng như tốc độ toàn cầu hóa… Người thế hệ nào phải tự tin
tự tìm ra đường đi nước bước, giải pháp cho thế hệ mình ( người đang
sống, mang tư tưởng sống mới giải quyết được cuộc sống
của thế hệ mình ), người đã khuất chỉ có thể nhiều lắm là gợi ý để tham khảo,
chứ không thể soi đường, chỉ lối cho thế hệ cháu, chắt…Cần tìm cho ra những
nhà lãnh đạo trẻ có tư duy mới, sáng tạo, tự tin, am hiểu thời đại
hiện nay, đất nước hiện nay, thế giới hiện nay; điều này quan trọng hơn là
lắp lại những giáo huấn đã xưa cũ, tuy không thể cắt đứt lịch sử, đoạn tuyệt
với quá khứ. Ở VN, cần phát hiện, bồi dưỡng gấp một hay vài nhà
lãnh đạo có hiểu biết,tài năng, bản lĩnh, cầm đầu sự nghiệp đổi mới. Một
nhà báo Mỹ nhận xét rằng : ở VN không thấy ai trong bộ chính trị có thể trả
lời phỏng vấn một cách sinh động, mới mẻ , chứng tỏ bộ óc đang làm việc,
đang suy nghĩ tìm tòi; chỉ là những cuộc trả lời vô vị, theo công thức có
sẵn, học thuộc lòng ! Một anh bạn nhà báo Thái lan thổ lộ : thật khó hiểu,
khi cả 3 vị ‘’triumvirat vietnamien’’ tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng
khi cầm tờ báo Washington Post hay Le Monde đều không cần hiểu một dòng tít
nào, giữa thời mở cửa và hòa nhập ! Thật đáng buồn cho nước VN, dân nổi
tiếng là thông minh hiếu học, từng tự khen ra ngõ gặp anh hùng, người tài
giỏi thời nào cũng không hiếm !
+ một hướng đổi mới quan trọng nữa là nên suy nghĩ thật kỹ
để lựa chọn một đường lối đối ngọai mới mẻ, hợp thời đại, tạo thêm
điều kiện cho đổi mới trong nước, từ bỏ đường lối đối ngoại cũ đã lỗi thời.
Đó là gắn bó ngày càng chặt chẽ, thật lòng, không e dè, nghi ngại với thế
giới dân chủ hiên tại, với Hoa kỳ, Liên minh châu Âu, Úc, Nhật bản…Không
phải ta vụ lợi, ‘’thấy kẻ giàu sang vơ quàng làm họ’’; cũng không phải ta hạ
mình thần phục những nước vốn là thù địch; cũng không phải là nước cờ nguy
hiểm, quay lại chống người bạn lớn láng giềng ,với hậu quả khó lường;ta
không chống TQ; chỉ mong sống với tình bạn láng giềng. Các nước dân chủ lớn
nhất đều tỏ mong muốn kết bạn thân với VN chỉ vì vị trí chiến lược hệ
trọng của ta, mong muốn dân ta tận hưởng một chế độ dân chủ tiến bộ (không
theo khuôn mẫu có sẵn nào, mà do dân ta sáng tạo lấy, miễn là
có những giá trị phổ cập của thời đại là: tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí,
tôn giáo,tổ chức và bầu cử, thật ra đều đã ghi trên hiến pháp nước ta nhưng
chưa được thi hành); các nước dân chủ lớn rất quý trọng những đức tính đặc
sắc của nhân dân ta : thông minh, khéo léo, cần cù, cởi mở ; hơn một chục
chuyến thăm Hoa kỳ, thăm 12 trường đại học, viện nghiên cứu, tìm hiểu hoạt
động của Quốc hội Mỹ, trao đổi với rất nhiều nhà báo, giáo sư, thượng nghị
sỹ… tôi cho rằng Hoa kỳ tuy không phải là mẫu mực hoàn thiện nhất của nền
dân chủ, nhưng vẫn là một nước dân chủ tiêu biểu, với rất nhiều nét
ưu việt; chỉ riêng việc tổng thống Nixon ở đỉnh cao quyền lực mất băng chức
vì tổ chức nghe lén, vi phạm một điều luật, hay tổng thống Clinton phải ra
ủy ban đặc biệt suốt mấy tuần lễ để khai tỷ mỷ về một hành vi liên quan đến
đạo đức cá nhân thuộc đời tư … cũng đủ cho thấy nền dân chủ vận hành tốt ra
sao. TQ chỉ mong được Hoa kỳ tỏ lòng ưu ái kết bạn thân mà không được, sao
VN đang được các nước dân chủ tỏ tình kết nghĩa mà lại e ngại, quay đi !
+ cần hiểu rõ một điều là các vị trong bộ chính trị, trung ương đảng, chính
phủ, chủ tịch tỉnh…hiện đều cho con cháu sang Mỹ học, thật lòng tin ở nền
giáo dục Mỹ, ở chế độ chính trị xã hội Mỹ, sao họ lại cản trở việc kết thân
của dân ta, thanh niên ta với nước Mỹ ? Họ ích kỷ chăng ? Nếu họ đứng ra
đề xướng, lobby việc kết thân ấy thì quí hóa bao nhiêu! Ở Mỹ đang
không thiếu những chính khách, giáo sư, nhà báo, nhà hoạt động xã hội , cựu
chiến binh , nam nữ thanh niên vận động, lobby cho việc kết thân Mỹ -
Việt. Họ dẫn chứng Nhật bản và Mỹ từng là tử thù của nhau, Pháp và Đức
từng coi nhau là thù truyền kiếp, nay cố kết thành bạn chí thiết. Các bạn Mỹ
ở Viện American Enterprise Institute, một ‘’think tank ‘’, cơ quan
nghiên cứu chính sách hàng đầu Hoa kỳ ước tính khi kết thân chí thiết, Hoa
kỳ có thể đầu tư cực lớn, từ chính phủ, các công ty lớn nhỏ, WB, IMF, các
hội đoàn của cả 50 bang và liên bang… dư sức đưa vào 50 đén 60 tỷ trong chỉ
5 năm , chưa kể EU , Nhật, Úc cũng sẽ đầu tư gấp bội hiện nay; lúc ấy
VN mới có thể xây dựng lại toàn bộ hạ tầng cơ sở, và thu
hẹp rất nhanh khoảng cách với các nước láng giềng, là 2 vấn đề bế tắc
hiện nay.
+ Đổi mới thật sự đất nước với 2 mũi đột phá : dân chủ hóa trong nước
và hòa nhập với thế giới dân chủ rộng lớn là 2 bước quả đoán tiến lên
phía trước sẽ đưa đổi mới nước ta lên một tầm cao văn hóa chính trị mới ,
làm cho VN vượt lên trước trong cuộc ganh đua hòa bình với TQ.
Do đó VN có tư thế vững vàng , đươc nước láng giềng lớn nể trọng hơn ;họ
không thể ăn hiếp ta về các vấn đề biên giới, hải đảo như cũ; thế quốc tế
của VN được tôn cao đáng kể. Tình hữu nghị với các nước Đông Nam Á vốn hầu
hết là đồng minh của Hoa kỳ cũng được chặt chẽ hơn. Đây là một nước cờ
chiến lược đặc sắc mang lại lợi ích vô kể, hạnh phúc bền lâu cho dân ta.
+ Dân chủ hóa và hòa nhập như vậy sẽ tự nhiên dẫn đến gắn bó
người Việt trong và ngoài nước, tạo nên hòa thuận dân tộc (tôi thấy
khái niệm này hay hơn, đẹp hơn là hòa giải hòa hợp dân tộc )
+ Để nước cờ này đươc chấp nhận, nên có một cuộc vận động
sâu rộng, lấy các bạn trẻ VN , nam và nữ trong và ngoài nước làm
nòng cốt, lấy internet làm một phương tiện thông tin vận động . Việc
này là khó, nhưng sự nghiệp đấu tranh to lớn nào không cần đến ý chí dấn
thân, lòng quả cảm và trí thông minh của những người con yêu quý tinh hoa
của Tổ quốc?. Cuộc vận động cho đổi mới có thể tạo thành một đồng thuận
sâu rộng, gắn bó người trong và ngoài nước, người thuộc các thế hệ, tuổi
tác khác nhau, kể cả những ngườI còn lương thiện, trong sạch trong đảng CS
và trong bộ máy chính quyền các cấp, anh chị em cựu chiến binh, các vị cao
niên đã nghỉ hưu , giới kinh doanh ngay thật cần công lý.
Mỗi người Việt xin hãy tham gia vào việc nước, chớ ỷ lại vào ai khác, hãy
suy nghĩ tìm tòi bằng đầu óc tỉnh táo minh mẫn của chính mình, chung
sức tìm ra giải pháp tối ưu đổi mới đất nước và tận lực vận động cho giải
pháp ấy.
Nước VN dân chủ và hòa nhập với thế giới dân chủ, phát triển hài hòa
với tốc độ cao , anh chị em khắp nơi hòa thuận yêu thương nhau là niềm hạnh
phúc vô tận mà không vàng bạc châu báu nào trên thế gian có thể mua được .
Xin gửi các bạn và các vị niềm quý yêu và niềm tin sâu đậm nhất .
Cũng xin gửi các bạn quốc tế ủng hộ VN dân chủ hóa và hòa nhập lòng quý mến
và biết ơn chân thành.
Bùi Tín
Paris
tháng 4-20
|