|
Biển Đông mỗi lần dậy sóng là một lần đánh dấu một bước ngoặc của lịch sử
Việt Nam. Và trong 40 năm sau cùng của thế kỷ 20 bước qua những năm đầu của
thế kỷ 21, biển Đông ghi đậm nét những chuyển biến của mối bang giao Việt-Mỹ,
một mối bang giao thương - ghét (hate-love) bất bình thường giữa một
đôi trai tài gái sắc.
Ngày 2 và ngày
4 tháng 8 năm 1964 khinh tốc đỉnh của hải quân Bắc Việt hai lần đánh chiến
hạm Maddox của Hoa Kỳ khi chiến hạm này đang tuần hành ngoài khơi vịnh Bắc
bộ đưa đến quyết định của quốc hội Hoa Kỳ thông qua Quyết nghị Vịnh Bắc
bộ (The Tonkin Gulf Resolution) cho phép tổng thống Lyndon Johnson dùng
bất cứ phương tiện gì kể cả vũ lực để bảo vệ quân đội Hoa Kỳ và yểm trợ các
quốc gia trong Liên phòng Đông nam á (Southeast Asia Collective Defense
Treaty). Quyết nghị này đã đưa đến việc can thiệp qui mô của Hoa Kỳ vào Việt
Nam.
Mấy năm sau,
tài liệu cho thấy Quyết nghị nói trên không phải là nguyên nhân làm cho Hoa
Kỳ sa chân vào cuộc chiến Việt Nam mà là một hành động có tính toán, và việc
hải quân Bắc Việt đánh tàu Maddox chỉ là một cái cớ. Trong vụ gọi là "vụ
Vịnh Bắc bộ" có hai trận đánh giữa hải quân Bắc Việt và hải quân Mỹ.
Trận đánh ngày 2 tháng 8 có thật, nhưng trận đánh ngày 4 tháng 8 có thể do
Hoa Kỳ ngụy tạo. (ghi chú: vấn đề này chưa được ngã ngũ, và có thể chẳng bao
giờ được ngã ngũ vì sự thật của lịch sử càng ngày càng bị chôn vùi dưới lớp
bụi thời gian).
Vào cuối năm
1967 Hoa Kỳ có nửa triệu quân chiến đấu tại Việt Nam. Sau trận đánh Mậu Thân
1968 Hoa Kỳ bắt đầu thương thuyết với Hà nội, và đến năm 1973 ký Hiệp định
Paris chuẩn bị rút quân ra khỏi Việt Nam.Trên nguyên tắc Hiệp định duy trì
hai miền Nam Bắc và sẽ giải quyết việc thống nhất đất nước trong hòa bình.
Nhưng đối với giới lãnh đạo cao cấp của Hoa Kỳ thì sau Hiệp định Paris miền
Nam Việt Nam trước sau cũng sẽ mất vào tay cộng sản bằng chính trị hay bằng
quân sự. (nếu TT Nixon không bị khó khăn vì vụ Watergate thì mất bằng chính
trị. Và nếu bị trói tay phải từ chức thì mất bằng quân sự).
Cho nên trước
khi rút lui, Hoa Kỳ phải tìm một thế địa lý chính trị tại Á châu ít
thiệt thòi cho mình nhất. Phía bắc Thái Bình Dương Hoa Kỳ vừa khai thông
quan hệ với Trung quốc qua việc thiết lập văn phòng liên lạc tại Bắc Kinh
(1973) và Hoa Kỳ còn quân đội đóng ở Nhật Bản và Nam Hàn. Nhưng ở nam Thái
Bình Dương thì vấn nạn của Hoa Kỳ là: sau khi Bắc Việt chiếm Nam Việt Nam
thì Nga Xô - đồng minh của Bắc Việt - sẽ có mặt tại biển Đông. Hoa Kỳ cần
tìm một đồng minh choán chỗ trước.
Nơi biển Đông,
Việt Nam Cộng Hòa có chủ quyền trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Trường Sa ở phía nam gồm nhiều đảo nhỏ. Trong khi quần đảo Hoàng Sa (gọi là
quần đảo Paracels) nằm ở phía bắc có ít đảo hơn nhưng có nhiều hòn đảo lớn
có khả năng xây cất phi trường (đảo Hoàng Sa là một trong những đảo lớn này).
Đối với Hoa Kỳ nếu Nga Xô có quyền xử dụng quần đảo Paracels sau khi Hà nội
chiếm Nam Việt Nam thì thế của Hoa Kỳ tại nam Thái Bình Dương sẽ yếu đi,
nhất là sự phòng thủ Úc châu. Ngược lại nếu Trung Quốc nắm chủ quyền quần
đảo Paracels thì Hoa Kỳ yên tâm hơn. Trung quốc vốn tranh chấp ảnh hưởng với
Nga Xô và kèn cựa với Bắc Việt sẽ làm người lính phòng thủ tốt chận ảnh
hưởng của Nga Xô xuống vùng nam Thái Bình Dương giúp cho Hoa Kỳ.
Đó là nguyên
nhân của cuộc tấn chiếm quần đảo Paracels của hải quân Trung quốc đưa đến
trận hải chiến ngày 19 tháng 1 năm 1974 giữa hải quân Trung quốc và hải quân
Việt Nam Cộng Hòa. Trận hải chiến này đã được đại tá hải quân Hà Văn Ngạc,
người chỉ huy trận đánh bảo vệ quần đảo Paracels thuật lại với nhiều chi
tiết trong bài viết "Trận hải chiến lịch sử Hoàng Sa" trước khi ông
qua đời tại Texas (đăng lần đầu tiên trên Tạp Chí Đi Tới số 21 phát hành tại
Montréal, Canada tháng 5/1999, và được đăng lại trong số Xuân Giáp Thân 2004
này). Đại tá Ngạc biết có một cái gì đó sau lưng trận đánh nên ông đã dè dặt
trong đôi lời trước khi viết rằng ông chỉ "tường thuật trung thực
những chi tiết theo khía cạnh của một người chỉ huy chiến thuật".
Cái gì sau lưng
đó là chuyến công du Trung quốc ngày 10 tháng 11 năm 1973 của ông Henry
Kissinger, lúc đó là bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ. Nội dung của chuyến công
du như ông Henry Kissinger ghi lại trong cuốn hồi ký chính trị "Years of
Upheaval" (Những Năm Tháng Biến Động) là thảo luận tình hình thế giới
với thủ tướng Chu Ân Lai và chủ tịch Mao Trạch Đông và hai bên quan tâm nhất
đến sự bành trướng thế lực của Nga Xô. Ngoại trưởng Kissinger viết, trong
một cuộc thảo luận giữa ông với hai ông
Chu và Mao Mao đồng ý với nhận định của ông
Chu rằng Nga xô là mối đe
dọa lớn nhất của Trung quốc [Mao went along cheerfully with Zhou’ s
implications that the Soviets were now the principal threat... (Years of
Upheaval,
trang 689) ].
Trước đó trong một đoạn tóm tắt mục đích và kết quả của chuyến công du
Kissinger viết rằng quan tâm chung của ông và ông
Chu là tình hình thế giới. Ông cho biết báo chí quốc tế tường
thuật chuyến công du của ông tại Trung quốc không thuận buồm xuôi gió vì vấn
đề Đài Loan, nhưng thực ra đây là chuyến đi thành công nhất của ông. Hoa Kỳ
và Trung quốc đã đạt đến một cái nhìn chung làm cho hai nước thắt chặt mối
thân hữu, và vì những lý do tế nhị đối với Nga Xô không thể tiết lộ được.[Following
the now well-established practice the heart of the visit was a detailed
review of the international situation by Zhou and me, together with our
senior associates... Our ties were cemented not by formal agreements but by
a common assessment of the international situation... Most of our
conversations, as usual, traced our shared analysis of the world situation,
though for equally obvious reason of Soviet sensitivities we could not
announce that fact either (Years of Upheaval,
trang 684)
]. Qua những dòng chữ trên, có lẽ có một thỏa thuận giữa Mao,
Chu và Kissinger để Trung quốc chiếm quần đảo Paracels của Việt
Nam Cộng Hòa.
Các sự việc
diễn ra sau đó giải thích giả thuyết này. Một tháng sau khi ông Kissinger
rời Bắc Kinh, hải quân Trung quốc lén lút đổ quân lên chiếm một số đảo trong
quần đảo Paracels. Và trong trận đụng độ giữa hải quân Trung quốc và hải
quân Việt Nam Cộng Hòa ngày 19/1/1974 hạm đội 7 của Hoa Kỳ đứng né ra ngoài.
Hạm đội Hoa Kỳ tránh cả việc cứu vớt thủy thủ Việt Nam bị trôi dạt trên biển
để cho Trung Cộng bắt mặc dù có lời yêu cầu chính thức của Việt Nam Cộng Hòa.
Hải quân Trung quốc sau khi đánh bại hạm đội Việt Nam Cộng Hòa đã không truy
kích để cho hạm đội nhiều thương tích này an toàn trở về căn cứ Đà Nẵng (xem
bài Trận hải chiến lịch sử Hoàng Sa của đại tá Hà Văn Ngạc). Nhưng
Hoa Kỳ đã can thiệp để các thủy thủ và quân nhân bị bắt được đối đãi tử tế
và trả về trong một thời gian ngắn. Riêng ông Kosh nhân viên tình báo Hoa Kỳ
tháp tùng quan sát bị bắt cũng được trả tự do trong vòng một tháng. Bài viết
của đại tá Hà Văn Ngạc ghi nhận rằng trong thời gian trước khi hai bên nổ
súng Trung quốc hết sức hòa hoãn. Có lẽ Trung quốc nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ
thuyết phục được Việt Nam Cộng Hòa bỏ quần đảo Paracels. Khi hải quân Việt
Nam đổ bộ lên tái chiếm các hòn đảo nhỏ chung quanh đảo Hoàng Sa mà Trung
quốc đã chiếm mấy tuần trước đó họ đã bỏ đi không chống cự. Nhưng sau khi
biết Hoa Kỳ không thuyết phục được tổng thống Thiệu bỏ Paracels, Trung quốc
dùng sức mạnh.
Nhưng các
chuyển biến trên thế giới chệch ra ngoài dự tính chiến lược của Hoa Kỳ. Mười
lăm năm sau (năm 1989) Liên bang xô viết sụp đổ, Trung quốc không cần phải
liên minh với Hoa Kỳ để chống Nga Xô nữa. Mặt khác vấn đề Đài loan làm cho
quan hệ Hoa Kỳ - Trung quốc căng thẳng, căn cứ Paracels của Trung quốc trở
thành một cái gai trước mắt của Hoa Kỳ.
Nhưng Hoa Kỳ
thất thế không lâu.
Sau biến cố tại
Liên bang Xô viết kéo theo sự sụp đổ của Đông Âu, Hà Nội liên kết với Trung
quốc để sống còn. Sự liên kết này làm cho Việt Nam thiệt thòi nhiều mặt.
Trên biển Đông Trung quốc lấn chiếm các hải đảo Trường Sa và o ép Việt Nam
ký những hiệp định về biên giới (1999) và lãnh hải (2000) có lợi cho Trung
quốc. Trong khi đó nền kinh tế khổng lồ của Trung quốc với sản phẩm đủ loại
giá rẻ thẩm thấu qua biên giới phía Bắc đe dọa nền kinh tế Việt Nam. Trước
áp lực, những người lãnh đạo Việt
Nam
phải cựa quậy. Và trong khi đi tìm một khoảng trống sinh tồn (espace
vitale) quyền lợi của Việt Nam phù hợp với quyền lợi của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ
không thể để cho Trung quốc lấp khoảng trống quyền lực tại Đông Nam Á mà
không tìm cách chế ngự.
Vì nhu cầu
chiến lược đó bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld đã mời tướng Phạm Văn Trà
bộ trưởng quốc phòng Việt Nam thăm viếng Hoa Kỳ. Cuộc viếng thăm đã được
thực hiện trong tháng 11, 2003 và tiếp ngay sau đó chiến hạm USS Vandegrift
của Hoa Kỳ ghé bến Sài Gòn.
Nhìn lại từ vụ
Maddox đến trận hải chiến Hoàng Sa, từ sự ra đi của khu trục hạm USS
Benjamin Stodert năm 1973 sau khi Hiệp Định Paris được ký kết cho đến sự
trở lại cảng Sàigòn của hộ tống hạm Vandegrift, biển Đông đã ghi dấu những
đổi thay không ngừng của lịch sử của Việt Nam.
Trần
Bình Nam - Jan. 10. 2004 |