Đọc
TÔI PHẢI SỐNG
của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
Trần
Bình Nam
Cuốn
Tôi Phải Sống, hồi ký tù đày của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
vừa được ra mắt độc giả lần đầu tiên hôm Chủ nhật
14/9/2003 tại Sacramento, thủ phủ của tiểu bang California. Sau đó
cuốn sách sẽ được ra mắt tại 14 thành phố khác ở Hoa Kỳ và
hai thành phố ở Canada từ giữa tháng 9 cho đến hết tháng 11. Đầu
năm 2004 Linh mục Lễ sẽ giới thiệu cuốn sách của mình tại Úc
châu và Âu châu.
Ở hải ngoại không thiếu hồi ký về tù đày. Nhưng thiếu
một cuốn hồi ký mà ngoài đói khát và khổ nhục trong nhà tù người
ta tìm thấy những suy tư nặng trĩu về đất nước và dân tộc.
Cuốn Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ là cuốn sách
đó.
Cuốn sách dày 650 trang cho chúng ta theo dõi bước chân của
Linh mục Nguyễn Hữu Lễ trong 13 năm từ 1976 cho đến năm 1989 qua
các trại tù, như một phần của trang sử đầy nước mắt của dân
tộc Việt, từ trại giam Ban Mê Thuột, về Phan Đăng Lưu ở thành
phố Sài gòn, ra trại Nam Hà ở miền Bắc, trại Cổng Trời trong
tỉnh Hà Tuyên, Thanh Cẩm ở Thanh Hoá, rồi lại Nam Hà. Linh mục
Nguyễn Hữu Lễ đã trải qua những đoạn đường đan bằng máu và
nước mắt. Vượt ngục, bị bắt, bị đánh gần chết, ba năm
kỷ luật, điểm những nét tươi vui vào những năm tháng cuối cùng
của những ngày tù đày ở trại Nam Hà với Trung úy T. và cô cán
bộ tài vụ KT mà chỉ cần một chút éo le của cuộc đời đã có
thể đưa đến một mối tình bất ngờ không ai biết được,
nếu không có bàn tay của Thiên chúa cứu vớt ông.
Khổ ải của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ giống như khổ ải
được báo trước của nàng Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh.
Kiều được báo trước số phận mình trong buổi chơi Xuân gặp
mộ Đạm Tiên. Còn số phận ông được định đoạt khi
ông quyết định sống trước hết như một người Việt Nam (sau
mới là một linh mục) không chấp nhận áp bức và cường quyền.
Sinh
trưởng tại một làng quê trong đồng bằng sông Cửu Long ông
lớn lên chơn chất giữa cảnh sông nước và đồng ruộng bao la mà
từ thời thơ ấu đã thấy những xác người trôi sông báo hiệu
một bầu trời ảm đạm sẽ phủ lên đất nước. Nỗi thống
khổ của người dân Việt ông được chứng kiến đã là động cơ
thúc đẩy ông muốn trở thành linh mục. Làm linh mục để sống
với dân và phục vụ dân.
Thọ
phong linh mục năm 1970 ông phục vụ Giáo hội Công giáo được 5 năm
thì miền Nam sụp đổ. Đứng trước một chính quyền xây dựng
trên chủ thuyết không công nhận tôn giáo ông cương quyết chống
trả. Ông có thể chịu đựng nghịch cảnh và sự hành xách của
cán bộ chính quyền tại họ đạo La Mã trong huyện Giồng Trôm nơi
ông được chuyển về phục vụ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 để
sống qua ngày, nhưng mang truyền thống bất khuất ông đi theo con
đường của sĩ phu là con đường chống lại mọi bất công và đàn
áp. Ông chọn thái độ: “không chấp nhận bất công, đủ điều
kiện thì chống, yếu thì chạy, bị bắt thì tìm cách trốn.”
Con đường định mệnh của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ từ năm
1975 cho đến năm 1989 khi ông vượt biên thành công qua đến Thái
Lan là con đường đó. Cái thái độ đó xác định số phận ba chìm
bảy nổi của ông và giúp độc giả hiểu hành động của tác
giả khi toan tính các cuộc đánh thoát trên tàu Sông Hương trên
đường ra Bắc và toan tính vượt biên tại trại Cổng Trời năm
1977, cuộc vượt ngục tại trại Thanh Cẩm tháng 5 năm 1979 và
một cuộc vượt ngục khác không thực hiện được năm 1982 cũng
tại trại tù Thanh Cẩm. Một số người cho Linh mục Nguyễn Hữu
Lễ quá mạo hiểm và không cân nhắc kỷ các điều kiện thực
tế trước khi hành động nên thất bại, nhưng vấn đế đối
với Linh mục Nguyễn Hữu Lễ là vấn đề nguyên tắc, trốn
khỏi trại tù khi có thể trốn được như phương châm của tù
binh theo Hiệp ước Geneva về tù binh. Ông đã hành động theo
thúc bách của những gì ông đã cam kết với chính mình.
Phút thử thách nhất của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
là cuối năm 1977 tại trại Nam Hà khi ban giám trại yêu cầu ông
phát biểu trước anh em tù về sự “yên tâm cải tạo”. Họ
chọn một linh mục vì họ biết nếu một linh mục đã đầu hàng
thì mọi sự sẽ vào khuôn phép. Nhưng Linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã
phát biểu “không yên tâm cải tạo” với những lý do hùng hồn
không chối cãi được. Lời phát biểu của ông là cái án tử hình
của ông. Họ quyết giết ông. Họ đưa ông lên trại Cổng Trời
để ông có lối về trời. Nhưng định mệnh lại cứu ông. Cuối
năm 1978 Hồng quân Trung quốc sắp tràn qua biên giới họ phải
đưa ông về trại Thanh Cẩm ở Thanh Hóa. Và sau khi ông vượt
ngục bất thành ở Thanh Cẩm họ muốn đánh chết ông nhưng ông
không chết và họ quyết giam ông tại trại kỷ luật cho đến khi
ông chết ông vẫn không chết. Linh mục Nguyễn Hữu Lễ tự hứa
với mình: “tôi phải sống.”
Linh mục Nguyễn Hữu Lễ muốn nói chúng ta hãy suy nghĩ xa hơn
cuộc chiến tranh quốc cộng mà chúng ta là nạn nhân để trở
lại yêu thương đất nước, yêu thương đồng bào. Hãy bình tâm
nhìn lại ưu điểm và khuyết điểm của dân tộc để vượt thoát.
Vượt thoát khỏi sự nghèo đói, chậm tiến và sự khinh thường
của cộng đồng thế giới đối với một dân tộc có đủ mọi
điều kiện về trí tuệ và thiên nhiên để được cộng đồng
quốc tế kính nể. Linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã quyết sống để
nói lên điều đó, một điều ông thấy được từ cõi chết.
Trở lại tác phẩm. Một cuốn sách dày 650 trang không thể
không có khuyết điểm. Cái khuyết điểm chính là những điểm
phụ không đóng góp gì cho giá trị của tác phẩm. Chuyện tù nhân
nguyên tướng cướp Bình Thanh Đỗ Thanh Bình vốn tâm phục Linh
mục Nguyễn Hữu Lễ như một người anh đã đánh gãy hai hàm răng
của một tù nhân khác vì đã không làm đúng lễ tặng quà cho đàn
anh cũng như việc định giết một tù nhân khác vì vô lễ với tác
giả mang đậm màu sắc tàn bạo, trơ trụi của cuộc sống trong tù
có thể có giá trị đối với một cuốn tiểu thuyết nào đó,
trở thành lạc lõng trong hồi ký mang nặng tư duy thời đại như
cuốn Tôi Phải Sống.
Hồi ký Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ có
một nét đặc thù khác là văn chương. Văn phong ông truyền cảm
mang đến cho người đọc một bầu trời chữ nghĩa điêu luyện
như đi giữa những từng mây dù đang lê lết trong địa ngục
trần gian. Ông sắp xếp diễn biến 13 năm tù đày không theo thứ
tự thời gian nhưng chập lên nhau, tuần tự để độc giả nhìn
được trọn bức tranh với một kỹ thuật khéo léo của một nhà
văn, tuy trước tác phẩm này tôi biết Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
chưa viết một cuốn sách nào. Đọc
cuốn Tôi Phải Sống tôi nhớ đến cuốn “Chuyện kể năm
2000” trong nước của nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa in xong đầu
năm 2000 chưa kịp xuất bản thì bị cấm. Cũng chuyện tù đày, cũng
cùng một kỹ thuật, cũng một thứ văn chương toàn bích. Cái khác
là “Chuyện kể năm 2000” dài hơn (1000 trang) và đã có người
nghĩ đến việc vận động đề nghị cuốn sách lên hội đồng xét
giải văn chương Nobel. Cái trở ngại chính là Việt ngữ chưa
phải là một ngôn ngữ có thế lực trên thế giới.
Và
tình yêu? Cuốn Tôi Phải Sống không thiếu tình yêu nam nữ. Nàng
cán bộ tài vụ KT của trại Nam Hà đã yêu người tù Nguyễn
Hữu Lễ và người tù Nguyễn Hữu Lễ đã để cho quả tim mình
rung động chăng?
Một
bức tranh quá đẹp tôi không cuỡng lại được cái ý muốn chia
xẻ với độc giả. Khung cảnh: trại Nam Hà. Người tù Nguyễn
Hữu Lễ được trả tự do, giấy tờ vừa xong với cô cán bộ tài
vụ KT. Linh mục Nguyễn Hữu Lễ thuật:
“
..... tôi khoác chiếc ba-lô nhẹ hẫng lên vai và bước ra khỏi phòng
tài vụ. KT xếp sổ sách giấy tờ trên bàn, đứng lên đi vòng ra
phiá sau chiếc ghế dài bằng gỗ nặng chắc chắn, buớc theo ra,
tiễn chân tôi. Chúng tôi đi song song bên nhau trong một hành lang dài
và hẹp dẫn ra phiá mặt tiền nhà nằm dọc theo đường cái. Chúng
tôi yên lặng bước đi, chẳng ai nói với ai câu gì, nhưng tôi có
cảm tưởng chính sự thinh lặng trong lúc này lại nói lên nhiều
hơn. Tự nhiên tôi chợt nhận ra, người con gái đang bước đi bên
cạnh tôi lúc này không còn là người cán bộ tài vụ nữa, mà là
người thân thiết của tôi. Nàng đã trở thành một người phụ
nữ bình thường như bao nhiêu người phụ nữ khác với những xúc
cảm tự nhiên trước lúc chia tay người thân và không còn hy
vọng gặp lại.
Khi
cả hai gần ra tới ngõ, tôi bất chợt dừng lại, quay sang nhìn KT
và bắt gặp đôi mắt màu đen đang mở thật to nhìn tôi, hai hàng
mi dài và cong. Nàng đang chớp mắt để che giấu sự xúc động. Tôi nhìn sâu vào mắt nàng, nói nhanh mấy câu giã từ:
-
Thôi giã biệt KT! Chúc cô và gia đình ở lại gặp nhiều may
mắn. Xin cám ơn sự lo lắng và giúp đỡ của cô trong thời gian
qua.
-
Anh Lễ! Đừng nói những lời cám ơn! ...... Vừa nói, nàng vừa
tiến lại sát bên tôi trong một cung cách rất tự nhiên của một
người em gái trong lúc tiễn biệt người anh. Tôi nắm lấy và bóp
nhẹ bàn tay bé nhỏ có các ngón thon dài của KT. Nàng để yên bàn
tay trong tay tôi. Tôi nghe tay nàng nóng, đang run nhẹ.... Mắt nàng
ướt long lanh, chớp thật nhanh nhìn tôi ........ Giọng nàng nhẹ như
trong hơi thở:
-
Anh đi bình yên.
Tôi buông tay nàng ra. .......... xốc lại chiếc ba-lô trên vai
và bước vội mấy bậc tam cấp lên đường cái ......”
Đọc Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ tôi cảm
thấy được cái chất thật của con người nói chung và con người
Việt Nam nơi ông. Qua đau khổ của tâm hồn và thể xác ông tìm
được sự thật nơi con người và sự thật của Việt Nam. Việt
Nam đau khổ. Việt nam oai hùng nhưng Việt Nam dẫm lên nhau mà
chết.
Qua đau khổ cùng cực của bản thân mình ông kêu gọi một
sự vượt thoát cho tương lai của đất nước và dân tộc. Đó là
thông điệp của Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ.
Trần
Bình Nam
September 14, 2003
BinhNam@earthlink.net
http://www.vnet.org/tbn