Thế
nào là "âm mưu của các thế lực thù địch" ?
Ya Biloh
Biến cố Tây Nguyên tháng 2-2001 là một thách thức lớn đối
với chính quyền Hà Nội. Lần đầu tiên dưới chế độ cộng
sản hàng chục ngàn đồng bào thiểu số trên Tây Nguyên đã đồng
loạt xuống đường biểu tình trong nhiều ngày đòi tự do tôn giáo
và yêu cầu chính quyền trả lại đất đai canh tác của tổ tiên
đã bị nhà nước tước quyền sở hữu.
Thay vì tìm kiếm một giải pháp ôn hòa để giải quyết
sự bất mãn, chính quyền Hà Nội đã chọn giải pháp đối đầu
và đàn áp. Hơn 20.000 binh lính và công an từ đồng bằng duyên
hải miền Trung đã được đưa lên Tây Nguyên tăng cường và giúp
các lực lượng an ninh địa phương cô lập những nơi tình nghi
xuất phát lệnh xuống đường. Từ tháng 2 đến tháng 5-2001,
nhiều buôn làng có đông dân cư thiểu số cư ngụ bị vây bủa,
suýt gây nạn đói nghiêm trọng trong cộng đồng người Thượng.
Sau hơn 5 tháng bao vây, hàng trăm người Thượng bị bắt và kết
những án tù nặng nề, hàng ngàn người khác chạy sang Kampuchia lánh
nạn. Tuy có bị truy lùng ráo riết để đem về Việt Nam giam
giữ, khoảng 1.000 người Thượng
đã được Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc cứu xét cho qua Mỹ
tị nạn. Những hành vi đàn áp thô bạo đối với người Thượng
đã bị các chính quyền dân chủ, dư luận quốc tế và các tổ
chức nhân quyền cực lực lên án : Việt Nam là một quốc gia không
tôn trọng quyền con người và quyền tự do tín ngưỡng.
Những gì đã xảy ra trên Tây Nguyên đều có tác động không
nhiều thì ít đối với cộng đồng người Chăm sinh sống dọc vùng
duyên hải miền Trung, nhất là tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình
Thuận. Khi biến cố Tây Nguyên vừa xảy ra, chính quyền cộng
sản Việt Nam không bỏ lỡ cơ hội đã tìm cách kềm chế cộng
đồng người Chăm sinh trú trên vùng đất này. Đối với Hà
Nội, cộng đồng người Chăm "có những vấn đề phức tạp
trong quan hệ với nước ngoài về dân tộc và tôn giáo". Hai
yếu tố này chi phối, ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống kinh
tế, chính trị và xã hội của người Chăm, do đó phải bằng
mọi cách vô hiệu hóa các tầng lớp tu sĩ, chức sắc tôn giáo và
trí thức Chăm.
Để thực hiện mục tiêu đó, giữa năm
2001, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia cho phát hành một tài
liệu để đảng viên và cán bộ học tập mang tựa đề
"Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến
mối quan hệ dân tộc hiện nay", sách dày 356 trang, gồm 4 chương.
Tài liệu này do giáo sư tiến sĩ Phạm Hữu Dật, chủ biên, cùng
22 tiến sĩ, cử nhân tên tuổi khác trong nước biên soạn. Đây là
những nhà nghiên cứu dân tộc học có tên tuổi và đã từng
viết nhiều bài khảo cứu dân tộc học có giá trị. Nhưng trong tài
liệu này, yếu tố biên khảo khoa học đã lùi bước trước áp
lực chính trị của Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam.
Chẳng hạn như trong chương IV, viết về vùng sắc tộc Khơme, Chăm,
Mông, Thái, Tây Nguyên, Hoa, các tác giả đã không những bóp méo
sự thật, xuyên tạc thực tế để luồn vào đó những yếu tố
nhằm phục vụ các mục tiêu chính trị và chiến lược mà còn
đưa ra những biện pháp an ninh và chính trị để khống chế và
áp bức những cộng đồng dân tộc này.
Riêng bài viết về vùng dân tộc Chăm, từ trang 200 đến
223, trừ yếu tố địa lý và dân cư, sự bóp méo sự thật và
xuyên tạc lịch sử, văn hóa, tôn giáo và xã hội dân tộc Chăm
của người viết đã rất trắng trợn. Trang 209, "những nhân
tố tác động đến quan hệ dân tộc ở vùng dân tộc Chàm hiện
nay", tác giả bài viết nhận định như sau : "Vấn đề
quan hệ dân tộc ở vùng dân tộc Chàm chịu tác động của
nhiều nguyên nhân và điều kiện khác nhau. Có nguyên nhân khách
quan như : hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, sự
tác động từ bên ngoài của môi trường quốc tế trên các lĩnh
vực của đời sống chính trị, văn hóa, trình độ phát triển,
sự chênh lệch, bất bình đẳng trong thực tế đời sống ảnh hưởng
tiêu cực đến mối quan hệ dân tộc ; có những vấn đề phức
tạp do lịch sử để lại ; đồng thời có những vấn đề phức
tạp mới nảy sinh trong đời sống vật chất và tinh thần như :
sự xâm nhập của các tôn giáo mới, hoặc tác động mặt trái
của quá trình dân chủ hóa xã hội, quá trình chuyển sang và tác
động mặt trái của nền kinh tế thị trường. […] Để giải
quyết tốt mối quan hệ dân tộc ở vùng Chàm, trước hết phải
phân tích kỹ âm mưu của các thế lực thù địch".
Về âm mưu các các thế lực thù địch, tác
giả bài viết đưa ra một số hoạt động điển hình như sau : thành
lập Trung Tâm Văn Hóa Chàm ở Phan Rang năm 1971 ; đưa Thanh Niên Chí
Nguyện Quốc Tế vào khu vực Chàm để hoạt động văn hóa ; thành
lập Hội Đồng Giáo Cả Chàm Hồi Giáo năm 1959, Hiệp Hội Chàm
Hồi Giáo Việt Nam năm 1961 ; nhào nặn ra tổ chức Fulro Chàm năm
1966 với mưu mô "đấu tranh lập một nhà nước Chămpa tự
trị".
Về Fulro Chàm, tài liệu cho biết : "Trong quá trình tồn
tại và chống phá cách mạng (sau 1975), Fulro Chàm đã gây cho ta
nhiều tổn thất, làm chết và bị thương nhiều cán bộ, chiến sĩ
và dân thường là người Kinh và người Chàm, gây tình hình căng
thẳng, không ổn định về an ninh, trật tự […]".
Tài liệu cho biết đối với dân tộc Chàm, các thế lực thù
địch đã sử dụng những đối tượng và phương thức chủ yếu
sau : "Một là, hoạt động của số đối tượng phản động
người Chàm lưu vong và các thế lực đứng sau nó (ở Mỹ : Văn
Phòng Chăm Pa Quốc Tế, Hội Muslim Chămpa, Liên Minh Người Chàm
Tị Nạn). […] Hai là, lợi
dụng chính sách mở cửa của Nhà nước ta, số đối tượng người
Chàm lưu vong và người nước ngoài trước đây đã từng hoạt động
ở vùng dân tộc Chàm tăng cường thâm nhập vào vùng Chàm, phổ
biến là dưới hình thức thăm thân nhân, du lịch, viện trợ từ
thiện, nhân đạo và đặc biệt là trên lĩnh vực nghiên cứu văn
hóa, lịch sử dân tộc Chàm… để móc nối lại các quan hệ cũ
với người Chàm, nhằm thu thập tin tức, tác động tư tưởng,
kể cả tuyên truyền gây hoài nghi, chia rẽ dân tộc, kích động tư
tưởng và tâm lý hoài cổ […]".
Về tác động của nhân tố tôn giáo, ngoài ba tôn giáo chính
(Chàm Bà la môn, Chàm Bà ni và Chàm Islam), tài liệu này cho biết :
"Từ năm 1990 các thánh đường Hồi giáo đã nhận được
của nước ngoài số tiền trị giá hơn 2.500 triệu đồng Việt
Nam (khoảng 170.000 USD) để phục vụ cho hoạt động tôn giáo.
Một số chức sắc cầm đầu Hồi giáo lấy các danh xưng tôn giáo
đẩy mạnh hoạt động móc nối với cá nhân, tổ chức Hồi giáo
quốc tế để liên hệ xin kinh sách, tiền tài trợ. Họ còn thành
lập ra các tổ chức bất hợp pháp, như
'Liên minh các thánh đường Islam tại Việt Nam' để quan hệ
với tổ chức Chữ Thập Đỏ Quốc Tế, sứ quán một số nước
tại Hà Nội, một số tổ chức đại diện ngoại giao ở Việt
Nam nhằm yêu cầu can thiệp với chính phủ Việt Nam cho người Chàm
tín đồ Islam được công nhận là ngoại kiều (xin phục hồi
quốc tịch Malaixia, xin xuất cảnh tập thể sang Malaixia)".
Riêng đối với Thiên Chúa Giáo,
tài liệu này tiết lộ "Từ 1992 trở lại đây, một
số giáo sĩ Công Giáo và Tin Lành đã xâm nhập, hoạt động
truyền đạo vào vùng đồng bào Chăm bằng nhiều hình thức, thủ
đoạn mới, lôi cuốn một số người Chàm theo hai tôn giáo này. Tình
hình đó đã tạo ra sự phân hóa mới ở vùng dân tộc Chàm :
trong nội bộ dân tộc, trong từng tôn giáo và mỗi gia đình. […]
Giáo hội Thiên Chúa Giáo chủ trương cho một số giáo sĩ học
tiếng Chàm để phục vụ cho việc phát triển đạo này vào vùng
dân tộc Chàm, đồng thời đã đầu tư kinh phí tài trợ cho học
sinh, sinh viên Chàm để từng bước tranh thủ lôi kéo lớp trẻ
trong người Chàm theo đạo của họ. Bằng các thủ đoạn trên,
trong thời gian qua họ đã lôi kéo được gần 6.000 người Chàm
(chiếm 5% dân số Chàm) theo đạo Thiên Chúa và Tin Lành".
Qua những nhận định bóp méo sự thật và
xuyên tạc này, người am hiểu tình hình chắc không cần một bình
luận nào. Tuy vậy cũng có một số sự kiện cần được giải thích
thêm để tránh hiểu lầm.
Trung Tâm Văn Hóa Chàm ở Phan Rang do linh mục Gérard Moussay, dòng
Thừa Sai Paris (Mission Etrangère de Paris), thành lập năm 1971 nhằm
bảo tồn nền văn hóa Chăm đang bị mai một. Từ khi được thành
lập đến năm 1975, trung tâm này chỉ được những nhà nghiên
cứu về người Chăm tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Paris chú ý
chứ không ảnh hưởng gì nhiều đối với sinh hoạt văn hóa của
người Chăm sinh sống tại Phan Rang. Hơn nữa trung tâm này đã bị
giải tán từ năm 1975. Công lao của giáo sĩ Moussay là đã soạn
thảo bộ tự điển Việt Chăm Pháp.
Về hoạt động của Fulro Chàm, đây là một phong trào nổi
dậy tự phát của người Chăm chống lại sự phân biệt đối
xử của chính quyền Sài Gòn đối với người sắc tộc. Phong trào
này không chủ trương thành lập một quốc gia tự trị mà chỉ đòi
được được nhìn nhận như những công dân Việt Nam thực thụ,
nghĩa là có đầy đủ quyền lợi và trách nhiệm như mọi công dân
Việt Nam khác của miền Nam Việt Nam lúc đó. Người ta thường đồng
hóa phong trào này với Mặt Trận Giải Phóng Champa do Les Kosem
(một tướng Khmer gốc Chăm tại Kampuchia) lãnh đạo. Tháng 4-1975,
Fulro Chăm nổi dậy ở ba tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy
là để phản đối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam
về việc sáp nhập hai quận Chăm là An Phước và Phan Lý Chàm vào
quận của người Kinh. Họ chỉ muốn nhà nước Việt Nam địa phương
trả lại đất đai quanh các đền đài và làng xã của tổ tiên
để canh tác, qua đó có điều kiện vật chất để tu bổ các tháp
Po Klaung Giray, Po Romé, Po Dam. Việc tố giác lực lượng này sát
hại người Kinh và người Chăm hoàn toàn là xuyên tạc thực tế.
Chính công an cộng sản Việt Nam đã bắt bớ và giam cầm bất
cứ người Chăm nào bị tình nghi theo Fulro, nhiều người đã bỏ
mình trong các trại cải tạo.
Còn thế nào là "âm mưu của các thế lực thù địch"
thì các tác giả của tài liệu chỉ đưa ra những hội đoàn văn
hóa, xã hội và từ thiện nhằm bảo tồn di tích Chăm và giúp đỡ
những người đồng hương trong nước đang gặp khó khăn. Điều
khó hiểu là những hội đoàn này nếu hoạt động trong vùng người
Kinh thì được hoan nghênh, khi hoạt động trong vùng thiểu số thì
bị cấm cản. Tại
sao vậy ? Chính quyền cộng sản Việt Nam chắc đã có làm nhiều
điều sai trái hay mờ ám gì đó đối với người thiểu số nên
mới sợ sự thật bị phơi bày ? Đã gọi là thiểu số, tức là
ít người, thì làm gì có sức mạnh để gây sợ hãi cho bất cứ
ai ? Sự thật là từ khi nắm được chính quyền cho tới nay, chính
quyền cộng sản đã không làm gì để nâng cao mức sống dân chúng
mà chỉ tập trung củng cố địa vị và bảo vệ quyền lợi riêng
tư. Khi bất công xảy ra, dân chúng nổi lên chống đối, cách
giản dị nhất là chụp lên đầu những người này cái nón phản
động, tay sai của các thế lực thù địch, để đàn áp và trù
dập. Lập luận này không phải chỉ mới đây, nó đã được sử
dụng từ 1945 và cho đến nay vẫn còn tiếp tục. Lần này chủ
yếu nhắm vào người thiểu số và tín ngưỡng của họ. Đạo
Hồi của người Chăm và đạo Tin Lành của người Thượng đã có
trước khi người cộng sản lên cầm quyền và chưa bao giờ là
một đe dọa cho bất cứ chính quyền nào. Mỗi lần gắn cho ai
chiếc nón phản động hay tay sai cho các thế lực thù địch, máu
và nước mắt của các nạn nhân lại đổ ra.
Về các tổ chức của người Chăm tại hải ngoại, đặc
biệt là ở Mỹ, đó chỉ là những hội đoàn thuần túy văn hóa
và xã hội. Cộng đồng người Chăm ở Mỹ, được chính phủ Hoa
Kỳ cho phép thành lập hội đoàn trong tinh thần bảo tồn và phát
huy văn hóa dân tộc. Sự thành lập các hội đoàn văn hóa và xã
hội này tại các quốc gia dân chủ phương Tây không những được
khuyến khích mà còn được các chính phủ địa phương tài trợ,
vì đó là một trong những di sản văn hóa của quốc gia cưu mang.
Theo dõi hoạt động của các hội đoàn này trong hơn 10 năm qua, chúng
tôi không thấy "Chăm kiều" nào nuôi dưỡng, kích động
tinh thần phục hồi vương quốc Champa cũ hay gây sự hận thù dân
tộc giữa người Kinh và người Chăm.
Tóm lại, tài liệu học tập do giáo sư tiến sĩ Phan Hữu
Dật làm chủ biên không chứa đựng một nội dung dân tộc học nào
mà chỉ là một tài liệu học tập nội bộ của Đảng và Nhà nước
Việt Nam nhằm chuẩn bị một cuộc đàn áp qui mô những người
trí thức gốc thiểu số, đặc biệt là người Chăm, tại Việt
Nam trong những ngày sắp tới. Cho dù có ý đồ nào, khơi lại
hiềm khích dân tộc là một thái độ bất xứng đối với
những người được coi là thành phần trí thức.
Ya Biloh (Cheo Reo)